Hoạt động xuất khẩu thép tiếp tục giảm sâu trong tháng 10 khi nhiều thị trường lớn siết phòng vệ thương mại, trong khi Campuchia bất ngờ trở thành điểm tiêu thụ lớn nhất, vượt xa Mỹ và EU.
Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, hoạt động xuất khẩu thép trong tháng 10 tiếp tục hạ nhiệt. Lượng thép đưa ra thị trường nước ngoài chỉ đạt hơn 677.000 tấn, thấp hơn 37% so với cùng thời điểm năm trước và giảm thêm 12% so với tháng 9. Tính từ đầu năm đến hết tháng 10, tổng sản lượng xuất khẩu xấp xỉ 8,6 triệu tấn, tức giảm khoảng 22% so với cùng kỳ 2023.
Trong bối cảnh nhiều thị trường lớn như Mỹ hay EU siết chặt các biện pháp phòng vệ thương mại, Campuchia lại trở thành điểm sáng hiếm hoi. Quốc gia láng giềng này đang là nơi tiêu thụ thép Việt Nam nhiều nhất trong nhóm thị trường đơn lẻ.
Chỉ trong 10 tháng đầu năm, Việt Nam đã chuyển sang Campuchia khoảng 1,2 triệu tấn thép, tăng 26% so với năm ngoái. Riêng thị trường này hiện chiếm khoảng 14% tổng lượng thép xuất khẩu cả nước, tăng 5 điểm phần trăm theo năm.

Thép Việt hụt hơi tại Mỹ và EU, nhập khẩu vẫn gấp đôi xuất khẩu
Trái ngược với giai đoạn cùng kỳ năm trước, khi Mỹ còn giữ vai trò thị trường đơn lẻ nhập khẩu thép lớn nhất của Việt Nam, năm nay quốc gia này đã rơi xuống vị trí thứ tư. Tỷ trọng thép Việt xuất sang Mỹ hiện chỉ còn 8,4%, trong khi 10 tháng năm ngoái gần chạm mốc 14%. Khối lượng giao hàng trong 10 tháng năm 2025 cũng lao dốc mạnh, giảm tới 53%, chỉ còn hơn 720.000 tấn.
Nguyên nhân chính đến từ việc Mỹ nâng thuế nhập khẩu thép lên 50% kể từ tháng 6, tức gấp đôi mức dự kiến công bố hồi đầu năm. Ngoài ra, vào tháng 8, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ban hành kết luận cuối cùng trong cuộc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp (CBPG - CTC) đối với thép chống ăn mòn (CORE) từ Việt Nam và chín nước khác, khiến xuất khẩu sang thị trường này thêm phần eo hẹp.
Về tình hình nhập khẩu trong tháng 10 cũng ghi nhận giảm mạnh 36% xuống khoảng 1,5 triệu tấn. Tuy vậy, con số này vẫn cao gấp đôi xuất khẩu. Luỹ kế 10 tháng qua, lượng tiêu Việt Nam nhập khẩu khoảng 12 triệu tấn thép, giảm 13% - thấp hơn so với tốc độ suy giảm của xuất khẩu.
Tình trạng nhập siêu thép kéo dài qua nhiều tháng khi lượng hàng vào luôn vượt xa lượng xuất đi. Từ đầu năm 2024 đến nay, chỉ có tháng 8/2024 là Việt Nam ghi nhận xuất siêu thép, nhưng mức dư xuất lại rất nhỏ so với quy mô nhập khẩu ròng của các tháng còn lại. Nhiều thời điểm, kim ngạch nhập thép cao gấp đôi lượng xuất, điển hình như tháng 10 và 12/2024, cũng như tháng 8 và 10/2025.
Nguồn cung thép nhập khẩu chủ yếu vẫn đến từ Trung Quốc, chiếm khoảng 59% tổng lượng nhập. Tuy vậy, tỷ trọng này đã thu hẹp đáng kể so với mức 69% của năm trước, sau khi Bộ Công Thương triển khai nhiều biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số dòng sản phẩm. Nhờ đó, lượng thép từ Trung Quốc đưa vào Việt Nam giảm khoảng 26%, còn khoảng 7,5 triệu tấn.

Giá thép trong nước vẫn duy trì đà ổn định
Giá thép tại miền Bắc
Theo SteelOnline.vn, thương hiệu thép Hòa Phát, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.090 đồng/kg.
Thương hiệu thép Việt Ý, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.880 đồng/kg.
Thép Việt Đức, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.350 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.850 đồng/kg.
Thép VAS, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.330 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.730 đồng/kg.
Giá thép tại miền Trung
Thép Hòa Phát, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 10.090 đồng/kg.
Thép Việt Đức, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.650 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.050 đồng/kg.
Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.430 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.830 đồng/kg.
Giá thép tại miền Nam
Thép Hòa Phát, thép cuộn CB240, ở mức 13.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.090 đồng/kg.
Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.130 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.730 đồng/kg.
Giá thép cây trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE) giao tháng 7/2026 tăng 7 Nhân dân tệ, lên mức 3.152 Nhân dân tệ/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn tại Đại Liên tăng phiên thứ hai liên tiếp lên mức cao nhất trong hai tuần nhờ nhu cầu ngắn hạn phục hồi tại Trung Quốc mặc dù hoạt động chốt lời trong bối cảnh mặt bằng giá thu hẹp đã hạn chế một số mức tăng.
Hợp đồng quặng sắt giao tháng 1 được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) của Trung Quốc tăng 1,41% lên 792 Nhân dân tệ/tấn (111,35 USD/tấn), mức cao nhất kể từ ngày 3/11. Hợp đồng này cũng đã đạt mức cao nhất trong hai tuần vào thứ Hai.
Dữ liệu từ công ty tư vấn Mysteel cho thấy khối lượng giao dịch hàng hóa đường biển và hàng hóa cảng biển lần lượt giảm 25,8% và 24,3% so với phiên trước vào thứ Hai.
Một nhà phân tích tại Thượng Hải cho biết giá cao hơn đã làm giảm nhu cầu mua của các nhà máy, do những người tham gia thị trường công nghiệp vẫn bi quan về xu hướng giá trong bối cảnh hàng tồn kho tăng và kỳ vọng nhu cầu thép suy yếu theo mùa.
Ngoài ra, đà tăng đã giảm bớt do chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai thu hẹp, theo một nhà giao dịch tại Singapore.
