Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Xuất khẩu nông lâm thủy sản tiếp tục thặng dư 'khủng'
Chuyên mục:

Kinh tế

Nhà đầu tư | 15:47
Google news

Thặng dư thương mại nông lâm thủy sản 7 tháng đầu năm 2025 tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu khi đạt 11,52 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước

Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn

Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) tháng 7/2025 của Việt Nam ước đạt 6,01 tỷ USD, tăng 13,4% so với tháng 7/2024; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS 7 tháng đầu năm 2025 đạt 39,68 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 21,49 tỷ USD, tăng 17%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 339,2 triệu USD, tăng 22,1%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 6,06 tỷ USD, tăng 13,8%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 10,38 tỷ USD, tăng 8,6%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 1,4 tỷ USD, tăng 30,2%; giá trị xuất khẩu muối đạt 6,4 triệu USD, tăng 2,2 lần.

Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 42,6%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 23,3% và 15,1%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 3,1% và 1,3%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 3,3%; châu Mỹ tăng 14,7%; châu Âu tăng 43,1%; châu Phi tăng 88,9%; và châu Đại Dương tăng 4,4%.

Xét theo thị trường cụ thể, Hoa Kỳ với thị phần 21%, Trung Quốc với thị phần 18,4%, và Nhật Bản với thị phần 7,2%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2025 sang thị trường Hoa Kỳ tăng 12,1%, Trung Quốc tăng 3,6%, và Nhật Bản tăng 23,6%.


Xuất khẩu cà phê thặng dư 5,78 tỷ USD, tăng 66% trong 7 tháng năm 2025. Ảnh: DT&PT 

Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn gồm: Cà phê đạt 1,1 triệu tấn và 6 tỷ USD, tăng 7,6% về khối lượng và tăng 65,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; Cao su đạt 893,8 nghìn tấn và 1,61 tỷ USD, giảm 2,1% về khối lượng nhưng tăng 13,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; Gạo đạt 5,5 triệu tấn và 2,81 tỷ USD, tăng 3,1% về khối lượng nhưng giảm 15,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; Rau quả đạt 3,92 tỷ USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2024; Hạt điều đạt 409,6 nghìn tấn và 2,79 tỷ USD, giảm 3,3% về khối lượng nhưng tăng 17,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024; Hàng thủy sản đạt 6,06 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2024; Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 9,67 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2024…

Thặng dư lớn từ gỗ và sản phẩm gỗ

Với kim ngạch nhập khẩu NLTS 7 tháng đầu năm 2025 đạt 28,16 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2024, thặng dư thương mại NLTS 7 tháng đầu năm 2025 đạt 11,52 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước).

Xét theo nhóm hàng, lâm sản, thủy sản và nông sản là 3 nhóm hàng có cán cân thương mại 7 tháng đầu năm 2025 ở trạng thái thặng dư.

Cụ thể, nhóm lâm sản ước đạt thặng dư 8,39 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2024; nhóm thủy sản thặng dư 4,18 tỷ USD, tăng 7,5%; và nhóm nông sản thặng dư 4,28 tỷ USD, tăng 33,4%.

Trong khi đó, cán cân thương mại 3 nhóm hàng còn lại ở trạng thái thâm hụt: nhóm đầu vào sản xuất thâm hụt 3,1 tỷ USD, giảm 6,9%; sản phẩm chăn nuôi thâm hụt 2,21 tỷ USD, tăng 22,9%; và muối thâm hụt 15,9 triệu USD, giảm 9,2%.

Xét theo mặt hàng cụ thể, có 6 mặt hàng NLTS có thặng dư thương mại ước tính 7 tháng đầu năm 2025 đạt trên 1 tỷ USD gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ thặng dư 7,7 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; Cà phê thặng dư 5,78 tỷ USD, tăng 66%; Rau quả thặng dư 2,47 tỷ USD, giảm 7,1%; Tôm thặng dư 2,08 tỷ USD, tăng 16,3%; Gạo thặng dư 1,81 tỷ USD, giảm 30%; Cá tra thặng dư 1,11 tỷ USD, tăng 8,3%.

5 mặt hàng NLTS có thâm hụt thương mại ước tính 7 tháng đầu năm 2025 cao nhất gồm: Thức ăn gia súc và nguyên liệu thâm hụt 1,89 tỷ USD, giảm 17,2% so với cùng kỳ năm trước; Bông các loại thâm hụt 1,88 tỷ USD, tăng 10,1%; Chế phẩm từ sản phẩm trồng trọt thâm hụt 1,72 tỷ USD, giảm 6,3%; ngô thâm hụt 1,29 tỷ USD, giảm 5,4%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật thâm hụt 917,7 triệu USD, tăng 10,4%.

Gỗ và sản phẩm gỗ thặng dư 7,7 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh:TTXVN 

Chiếm gần 69% trong tổng thặng dư NLTS (7,7 tỷ USD/11,52 tỷ USD), giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 7 tháng đầu năm 2025 đạt 9,67 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2024.

Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 55,9%. Nhật Bản và Trung Quốc là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,4% và 10,7%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2025 sang thị trường Hoa Kỳ tăng 11,6%, thị trường Nhật Bản tăng 27,1%, thị trường Trung Quốc giảm 16,8%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng mạnh nhất ở thị trường Tây Ban Nha với mức tăng 47,3% và giảm mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức giảm 16,8%.

Số liệu vừa công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, 7 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 514,7 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 14,8%; nhập khẩu tăng 17,9%; Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 10,18 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,63 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 16,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 26,78 tỷ USD.

Thanh Thanh-Link gốc

THUẬT NGỮ TRONG BÀI
term AI
Các thuật ngữ được trích xuất trong tin bài và giải thích ngắn ngọn bằng AI. Nếu muốn xem thêm về Thuật ngữ, vui lòng xemtại đây.
Sao chép liên kết để chia sẻ bài viết lên Facebook, Zalo,...
SSV
Cùng chuyên mục