Khi tăng trưởng tín dụng được Moody’s dự báo vượt 20% trong năm 2026 còn tiền gửi tiếp tục tụt lại phía sau, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt một bài toán vốn ngày càng căng thẳng. Để nuôi tham vọng tăng trưởng hai chữ số của nền kinh tế, các nhà băng buộc phải dựa nhiều hơn vào thị trường liên ngân hàng và đặc biệt là phát hành trái phiếu
Theo báo cáo phân tích chuyên sâu của Moody's Ratings, việc tăng cường phát hành trái phiếu được dự báo là giải pháp tất yếu để các ngân hàng Việt Nam ứng phó với áp lực thắt chặt nguồn vốn khi tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa tăng trưởng tiền gửi.
Tăng trưởng tín dụng cao gây áp lực lên nguồn vốn ngân hàng
Moody's cho biết tăng trưởng trong cho vay của các ngân hàng Việt Nam đã mạnh lên “từ năm 2022 và tốc độ này dự kiến sẽ còn tăng nhanh hơn nữa vào năm 2026".
Bối cảnh chính là các chỉ đạo của Chính phủ để hỗ trợ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, bao gồm mục tiêu GDP tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 ở Việt Nam.
Theo Moody’s, báo cáo dự báo tăng trưởng tín dụng bình quân của các ngân hàng đã được xếp hạng tại Việt Nam sẽ "vượt 20% trong năm 2026", với mức tăng trưởng của "hầu hết các ngân hàng khối tư nhân vượt 25%".
Tuy nhiên, điều này sẽ tạo ra áp lực lớn lên nguồn vốn của các tổ chức tín dụng. Báo cáo của tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế nhận định: "Điều này cũng sẽ thắt chặt vị thế nguồn vốn của các ngân hàng bởi vì tăng trưởng tiền gửi sẽ tiếp tục tụt lại so với tăng trưởng tín dụng".
Từ đó, Moody's dự báo "tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn hệ thống sẽ duy trì ở mức cao nhất trong khu vực ASEAN, khoảng 110%". Tỷ lệ này cao hơn mức "104% được ghi nhận vào cuối tháng 12/2024".
.png)
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đóng vai trò là nguồn tín dụng quan trọng trong nền kinh tế trong bối cảnh các thị trường vốn chưa phát triển đến mức kỳ vọng. Ảnh TL
Ngân hàng Việt sẽ tăng phụ thuộc vào vốn thị trường và trái phiếu
Để đáp ứng nhu cầu vốn, các ngân hàng trong nước được Moody’s dự đoán sẽ "tăng cường phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường" và "phát hành thêm trái phiếu".
Về vốn thị trường ngắn hạn, tỷ trọng vay liên ngân hàng đã tăng lên 17% tổng nợ phải trả tính đến tháng 6/2025, từ mức 15% vào tháng 12/2020. Theo Moody’s, các khoản vay này "chủ yếu là ngắn hạn và đặt ra rủi ro tái cấp vốn cao hơn".
Báo cáo này cảnh báo: "Trong thời điểm căng thẳng, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng có thể cạn kiệt nhanh chóng, dẫn đến chi phí vốn tăng đột biến, như trường hợp của lãi suất liên ngân hàng trong đợt khủng hoảng thanh khoản năm 2022".
Về phát hành trái phiếu, theo Moody’s, khối lượng trái phiếu do các ngân hàng phát hành trong 9 tháng đầu năm 2025 “đã tăng lên 257 nghìn tỷ đồng (9,75 tỷ USD), từ mức 227 nghìn tỷ đồng cùng kỳ năm trước".
Moody's kỳ vọng "hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng sẽ duy trì mạnh mẽ vào năm 2026". Trái phiếu thường có kỳ hạn dài hơn, khoảng 5 năm, và là "một nguồn vốn ổn định hơn", báo cáo viết nhưng nhận định rằng do quy định giới hạn cơ sở nhà đầu tư nên "các trái phiếu này “có thể gây ra rủi ro tập trung" và có khả năng việc phát hành trái phiếu trong giai đoạn tiếp theo sẽ đi cùng với chi phí cao hơn nếu thị trường căng thẳng.
Vai trò của Ngân hàng Nhà nước
Moody's cũng nhận định trong bối cảnh "hệ thống ngân hàng Việt Nam đang có tính cạnh tranh cao và còn phân mảnh" thì các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân quy mô nhỏ hơn sẽ dễ bị tổn thương hơn trước rủi ro nguồn vốn. Các ngân hàng nhỏ hơn phải cạnh tranh mạnh hơn để huy động tiền gửi và "không thể chuyển chi phí vốn tăng lên cho người đi vay".
Tuy nhiên, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được đánh giá là yếu tố giảm thiểu rủi ro. Tổ chức quốc tế này khẳng định: "Sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với lãi suất sẽ giúp giảm thiểu sự tăng vọt đột ngột của chi phí nguồn vốn".
Cụ thể, trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo các ngân hàng trong hệ thống giữ lãi suất ở mức thấp, Moody’s cho biết. Báo cáo cũng lưu ý rằng lượng tài sản thanh khoản chất lượng cao (high-quality liquid assets) của các ngân hàng Việt Nam còn "khiêm tốn so với các nước trong khu vực ASEAN", và điều này nghĩa là "bộ đệm thanh khoản bị hạn chế".
Tuy nhận định có những căng thẳng về nguồn vốn, Moody's vẫn duy trì đánh giá ổn định đối với hồ sơ tín dụng của các ngân hàng, nhờ vào hai yếu tố chính: lợi nhuận và vốn hóa. Báo cáo trên nhấn mạnh: "Lợi nhuận mạnh mẽ và vốn hóa ổn định sẽ hỗ trợ hồ sơ tín dụng ổn định của các ngân hàng tại Việt Nam".
Moody’s cho rằng lợi nhuận sẽ "vẫn mạnh mẽ" do "tác động đến Biên lãi ròng (NIM) sẽ bị hạn chế vì các cơ quan quản lý có khả năng duy trì lãi suất". Tỷ suất sinh lời trên tài sản hữu hình (ROTA) của các ngân hàng Việt Nam đạt trung bình "1,4% trong 3 năm qua", và Moody’s nhấn mạnh mức này "cao hơn hầu hết các nước trong khu vực".
Về vốn hóa, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế này cho biết các chính sách duy trì vốn thận trọng sẽ giữ cho vốn hóa toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam ổn định. Ngoài ra, "các quy định mới về yêu cầu vốn cao hơn vào năm 2029 sẽ hỗ trợ hồ sơ tín dụng của các ngân hàng". Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định yêu cầu các ngân hàng dần dần xây dựng thêm "bộ đệm bảo tồn vốn bổ sung 2% vào ngày 1/1/2030", Moody's cho biết.
