Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Tìm hiểu 3 ngân hàng đi ngược xu hướng: Tăng trích lập, chấp nhận thu hẹp lợi nhuận
Chuyên mục:

Tài chính

Vietnam Finance | 22:42
Google news

Mùa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 cho thấy đa số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tích cực, trong đó một phần đáng kể đến từ việc tiết giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, trong bối cảnh chung đó, nhiều ngân hàng lại bất ngờ gia tăng trích lập, tạo ra sự phân hóa rõ nét trong chiến lược và chính sách quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng trong năm 2025 nhìn chung đã khởi sắc hơn rất nhiều so với năm trước, khi nhiều tổ chức tín dụng duy trì được đà tăng trưởng và mặt bằng lợi nhuận toàn ngành cải thiện rõ rệt.

Trong các cấu phần tạo nên lợi nhuận, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng là yếu tố có thể hỗ trợ hoặc làm suy giảm lợi nhuận trong kỳ. Vì vậy, chỉ cần mức trích lập được thu hẹp, lợi nhuận trước thuế có thể tăng mạnh, điều này lại thể hiện khá rõ tại nhiều ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2025.

Dù vậy, việc gia tăng trích lập hay hoàn nhập không đơn thuần là việc ghi nhận một khoản chi phí, mà phản ánh chiến lược tăng trưởng và quản trị rủi ro trong danh mục tín dụng của mỗi ngân hàng. Một năm có mức dự phòng thấp có thể xuất phát từ sự cải thiện của chất lượng tài sản, hoặc từ việc ngân hàng gia tăng trích lập trong các giai đoạn trước. Ngược lại, việc gia tăng dự phòng thường gắn với sự xuất hiện của các khoản vay có rủi ro cao hơn trong danh mục, hoặc với chiến lược chủ động gia cố bộ đệm an toàn.

Xu hướng dự phòng của số đông và ngoại lệ của ba ngân hàng

Xét ở góc độ hệ thống, diễn biến dự phòng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu theo từng quý phản ánh xu hướng nền và điểm rơi rủi ro trong năm. Dữ liệu cho thấy quy mô dự phòng rủi ro cho vay khách hàng tăng dần qua các quý, trong đó năm 2025 nổi bật với nhịp tăng mạnh từ nửa cuối năm. Mức dự phòng toàn ngành trong năm này đi từ quanh 210.000 tỷ đồng ở quý I lên gần 230.000 tỷ đồng ở quý III, trước khi giảm về quanh 220.000 tỷ đồng ở quý IV, đồng nghĩa quý cuối năm vẫn duy trì mặt bằng cao. Song song với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu dao động quanh vùng 80 - 85%, thấp hơn đáng kể so với vùng gần 100% vào cuối năm 2023. Trong bối cảnh này, việc một số ngân hàng tiết giảm chi phí dự phòng giúp lợi nhuận gia tăng là điều dễ hiểu, khi phần lợi nhuận bị giữ lại trước đó được giải phóng trong khi nền dự phòng của hệ thống vẫn neo ở mức cao.


Tỷ lệ bao phủ nợ xấu ngành ngân hàng năm 2025.

Về mặt vận hành, chi phí dự phòng giảm thường đi kèm với việc rủi ro tín dụng bớt căng thẳng hơn hoặc ngân hàng đã trích lập ở mức cao trong giai đoạn trước nên không cần duy trì nhịp độ tương tự ở năm sau. Khi áp lực này hạ nhiệt, lợi nhuận trước thuế thường tăng nhanh do chi phí dự phòng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí của ngân hàng. Tuy nhiên, quan sát xu hướng theo quý của toàn ngành cho thấy quy mô dự phòng vẫn tăng và duy trì ở mức cao đến quý IV, vì vậy không thể hiểu đơn giản rằng việc giảm chi phí dự phòng đồng nghĩa hệ thống đã bước qua giai đoạn khó khăn. Cách tiếp cận hợp lý hơn là nhiều ngân hàng đang điều chỉnh nhịp chi phí theo chu kỳ và khẩu vị rủi ro từng thời điểm, trong khi vẫn giữ bộ đệm dự phòng đủ thận trọng trên bảng cân đối.

Các ngân hàng quốc doanh là các ngân hàng quyết liệt nhất trong việc cắt giảm chi phí dự phòng trong năm 2025. Mức cắt giảm trích lập lớn nhất có thể kể đến VCB, khi chi phí trích lập dự phòng cả năm đã giảm gần 27% chỉ trong quý 4, góp phần cứu cánh cho kết quả kinh doanh không thuận lợi của ngân hàng này khi NIM của ngân hàng này vẫn trong xu hướng sụt giảm mạnh trong năm.

Chúng ta phải hiểu rằng nếu không có sự thay đổi đáng kể trong chất lượng tín dụng của danh mục thì chi phí dự phòng vẫn có xu hướng chung sẽ tăng trưởng theo thời gian. Trong cấu phần trích lập dự phòng sẽ bao gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Dự phòng chung được tính trên quy mô dư nợ x 0,75% nên khi quy mô dư nợ tăng thì tất yếu dự phòng chung phải tăng tương ứng.

Trong khi đó, mức trích lập dự phòng cụ thể sẽ xuất phát từ việc phân loại nợ của ngân hàng, các khoản nợ được đánh giá có chất lượng càng xấu thì mức trích lập dự phòng cụ thể sẽ phải càng cao. Do đó, việc mức trích lập dự phòng trong quý 4 cho thấy có rất nhiều khoản trích lập dự phòng trước đó đã được hoàn nhập lại, từ đó góp phần gia tăng lợi nhuận của nhiều ngân hàng. Với việc tín dụng tăng mạnh trong quý 4 vừa rồi để hỗ trợ tăng trưởng thì việc tỷ lệ nợ xấu của ngành cải thiện đã là điều được thị trường kỳ vọng trước khi báo cáo được công bố.

Nếu phần lớn ngân hàng được hưởng lợi từ nhịp cắt giảm chi phí dự phòng suy giảm, thì một số ngân hàng như ACB, STB và EIB lại ngược dòng ghi nhận chi phí trích lập tăng vọt để gia cố bộ đệm và xử lý rủi ro, qua đó khiến lợi nhuận bị thu hẹp.

ACB chấp nhận không hoàn thành KPI khi ghi nhận lợi nhuận trước thuế chỉ còn 19.538 tỷ đồng nhưng chủ động nâng trích lập dự phòng tăng mạnh để củng cố bộ đệm rủi ro, thay vì tối ưu lợi nhuận ngắn hạn. STB tạo ra sự đột biến trong quý IV khi lỗ trước thuế hơn 3.360 tỷ đồng, gắn với việc chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt, kéo kết quả cả năm xuống thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng của thị trường.

EIB cũng gia tăng chi phí dự phòng trong bối cảnh nợ xấu cuối năm 2025 vượt 5.270 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ khoảng 2,86%, khiến áp lực trích lập tăng mạnh, đi kèm với đó là các thông báo về các định hướng tái cấu trúc mạnh của ngân hàng được ban lãnh đạo công bố ra ngoài.

Đằng sau mức trích lập là các chiến lược của mỗi ngân hàng

Khi đã nhận diện được xu hướng chung của ngành và sự lệch pha của ba ngân hàng, câu hỏi tiếp theo là rủi ro đang nằm ở đâu trong danh mục tín dụng và mục tiêu điều hành mà mỗi ngân hàng đang theo đuổi là gì.

Đối với trường hợp ACB, điểm đáng chú ý là nợ xấu giảm nhưng ngân hàng vẫn chủ động nâng khoản trích lập dự phòng, cho thấy sự ưu tiên dành cho chất lượng danh mục thay vì đánh đổi lợi nhuận. Dữ liệu từ báo cáo tài chính cho thấy tỷ lệ nợ xấu của ACB giảm từ 1,49% xuống 0,97%, mức rất thấp trong toàn ngành, trong khi lũy kế mức trích lập dự phòng tăng mạnh 23.86%, từ 6.155 tỷ đồng ở quý III lên 7.624 tỷ đồng ở quý IV. Song song với đó, ngân hàng nâng trích lập dự phòng cả năm lên hơn 3.300 tỷ đồng, gấp đôi so với năm 2024, chủ yếu liên quan đến việc thực hiện các quy định về phân loại tài sản theo Nghị định 86/2024.

Điều đó thể hiện ngân hàng đã chủ động xử lý nợ xấu từ trích lập để nâng cao chất lượng danh mục cho vay và cải thiện đáng kể tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tăng mạnh lên 114%, so với mức chỉ 78% cuối năm 2024, giúp bộ đệm an toàn được củng cố. Điều này có thể là dấu hiệu cho một kế hoạch tăng trưởng mạnh trong tương lai của ngân hàng trong giai đoạn sắp tới.


Lũy kế số dư dự phòng nợ xấu của các nhóm ngân hàng trong quý IV/2025.

Với STB, mức trích lũy kế trích lập dự phòng của ngân hàng tăng khoảng 29,04%, từ 15.542 ở quý III lên 20.055 tỷ đồng ở quý 4, trong khi tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,40% lên 6,41%, quý IV cũng là điểm rơi khi ngân hàng tiến hành rà soát, phân loại lại các khoản nợ và ghi nhận chi phí trích lập gia tăng tương ứng.

Tuy nhiên việc chấp nhận một kết quả kinh doanh kém trong ngắn hạn chính là tín hiệu cho thấy STB đang ưu tiên tuyệt đối cho mục tiêu làm sạch bảng cân đối kế toán và đóng lại phần rủi ro đã hình thành thay vì tiếp tục kéo dài thời gian xử lý. Đây được xem là những bước đi để ngân hàng hoàn tất đề án tái cơ cấu sau VAMC, tạo tiền đề minh bạch và khỏe mạnh hoàn toàn cho ngân hàng bước vào chu kỳ kinh doanh mới, diễn ra trong bối cảnh ngân hàng có những thay đổi cấp điều hành.

Ở EIB, câu chuyện dự phòng gắn với sức ép từ cơ cấu nợ xấu tồn đọng và quyết tâm làm mới mình của ban lãnh đạo trong giai đoạn chuyển giao, đặc biệt khi phần nợ rủi ro cao chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục. Cuối năm 2025, nợ xấu của ngân hàng vượt 5.270 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ khoảng 2,86%, trong đó nợ nhóm 5 gần 3.480 tỷ đồng, khiến áp lực trích lập gia tăng. Khi nợ nhóm 5 ở mức cao, chi phí dự phòng thường nặng và mang tính bắt buộc, bởi ngân hàng phải xử lý phần rủi ro lớn nhất của danh mục trước khi có thể tính đến việc điều chỉnh.

Đặt trong bối cảnh EIB đang rà soát và nỗ lực xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu tồn đọng từ 10 năm trước thì việc hy sinh lợi nhuận để trích lập là một bước đi cần thiết. Đây là lựa chọn chiến lược nhằm chuẩn hóa lại nền tảng tín dụng nhằm đảm bảo chất lượng danh mục cho vay trong tương lai.

Năm 2025 cho thấy việc gia tăng hay suy giảm mức trích lập dự phòng có thể hỗ trợ lợi nhuận của các ngân hàng. Khi phần lớn tổ chức tín dụng giảm trích lập, lợi nhuận tăng nhanh là diễn biến dễ lý giải, nhưng sự phân hóa trong chính sách trích lập dự phòng của các ngân hàng lớn, cho thấy vấn đề chất lượng lợi nhuận từ danh mục cho vay của các ngân hàng vẫn tiếp tục là một ẩn số và nó phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược và khẩu vị quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng qua từng thời kỳ.

Lê Hoài Ân

Link gốc

THUẬT NGỮ TRONG BÀI
term AI
Các thuật ngữ được trích xuất trong tin bài và giải thích ngắn ngọn bằng AI. Nếu muốn xem thêm về Thuật ngữ, vui lòng xemtại đây.
Sao chép liên kết để chia sẻ bài viết lên Facebook, Zalo,...
SSV
Cùng chuyên mục