Thị trường lớn, dư địa còn rộng… nếu được đầu tư bài bản, quả nhãn Việt Nam trở thành một ngành hàng lớn vào thị trường Trung Quốc.
Chưa xứng tiềm năng
Theo thống kê của cơ quan Hải quan Trung Quốc, năm 2025, nhập khẩu quả nhãn tươi của nước này đạt khoảng hơn 400.000 tấn, trị giá gần 500 triệu USD. Nguồn cung gần như tập trung vào một số ít quốc gia Đông Nam Á, trong đó Thái Lan chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi Việt Nam - dù là nước trồng nhãn lớn - lại chỉ chiếm tỉ lệ khiêm tốn.
Theo số liệu tổng hợp từ Văn phòng Cố vấn Nông nghiệp tại Bắc Kinh, riêng Thái Lan xuất khẩu sang Trung Quốc 375.123 tấn nhãn, tương đương 91,79% thị phần, với giá trị khoảng 455 triệu USD. Campuchia đứng thứ hai với 33.075 tấn, chiếm khoảng 8,09%, trị giá 43 triệu USD. Lượng nhãn tươi của Việt Nam vào thị trường này chỉ ở mức khoảng 0,5 tấn, quá nhỏ so với thực tế trồng trọt.

Biểu đồ thể hiện sản lượng quả nhãn xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc năm 2025. Ảnh đồ họa: Nguyễn Phước Tuyên
Theo số liệu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, trong 5 năm gần đây, nhãn là cây trồng có tốc độ tăng trưởng cả về diện tích trồng và sản lượng. Hiện cả nước trồng khoảng 80.000 ha, sản lượng 600.000 tấn/năm. Điều này cho thấy một nghịch lý: Việt Nam có sản lượng nhãn lớn nhưng lại chưa khai thác hiệu quả thị trường tiêu thụ lớn nhất trong khu vực.
Áp lực cạnh tranh
Nhãn là loại trái cây ưa chuộng tại Trung Quốc, đặc biệt phổ biến ở các tỉnh phía Nam. Ngoài tiêu thụ tươi, nhãn còn được dùng làm nguyên liệu chế biến trà, thực phẩm chức năng, dược liệu hoặc các món tráng miệng truyền thống. Vì vậy, nhu cầu thị trường tương đối ổn định và có xu hướng tăng. Trong khi đó, sản lượng nhãn của Việt Nam mỗi năm ước đạt trên 600.000 tấn, tập trung ở nhiều địa phương như Hưng Yên, Sơn La, Đồng Tháp.

Thu hoạch quả nhãn ở Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Dương Cầm
Tuy nhiên, phần lớn sản lượng vẫn tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu qua các kênh nhỏ lẻ, giá trị gia tăng chưa cao. Một trong những nguyên nhân là chuỗi giá trị ngành nhãn chưa được tổ chức đồng bộ. Trong khi đó, Thái Lan đã đầu tư mạnh vào hệ thống tiêu chuẩn sản xuất, đóng gói, logistics và quảng bá thương hiệu. Nhờ vậy, nhãn Thái Lan có mặt ổn định tại các hệ thống phân phối lớn của Trung Quốc.
Ngay cả Campuchia - quốc gia có diện tích trồng nhãn không quá lớn - cũng nhanh chóng tận dụng cơ hội sau khi được Trung Quốc cấp phép xuất khẩu chính ngạch. Chỉ trong vài năm, lượng nhãn xuất khẩu của nước này đã tăng mạnh. Điều này cho thấy lợi thế cạnh tranh của một ngành hàng còn nằm ở khả năng tổ chức chuỗi xuất khẩu chuyên nghiệp.
Tiềm năng, nhưng cần thận trọng
Xét trên góc độ thị trường, nhãn vẫn được đánh giá là loại trái cây có tiềm năng phát triển trong thời gian tới. Trước hết, đây là loại cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam. Từ vùng đồng bằng đến trung du đều có thể trồng nhãn cho năng suất khá cao. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho cây nhãn không quá lớn so với một số loại cây ăn trái khác.

Nhãn là loại cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam. Ảnh: Dương Cầm
Thứ hai, dư địa nâng cao giá trị còn khá lớn. Hiện nay nhãn Việt Nam chủ yếu được bán dưới dạng trái tươi. Trong khi đó, thị trường quốc tế còn nhiều sản phẩm chế biến từ nhãn như nhãn sấy, long nhãn, trà nhãn, nước ép hoặc các sản phẩm dược liệu. Những sản phẩm này có giá trị cao hơn và thời gian bảo quản dài hơn.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia nông nghiệp, nếu xét về giá trị kinh tế, nhãn khó trở thành ngành hàng “mũi nhọn” như sầu riêng. Giá trị xuất khẩu trên đơn vị sản phẩm của nhãn thấp hơn nhiều, đồng thời phải cạnh tranh mạnh với nguồn cung từ Thái Lan. Vì vậy, hướng phát triển phù hợp là xây dựng nhãn trở thành một ngành hàng trái cây quan trọng nhưng phát triển theo hướng bền vững, không chạy theo mở rộng diện tích ồ ạt.
Thanh Mai
