Cơ chế phân chia thuế giá trị gia tăng (GTGT) giữa ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP) thời gian qua đã tạo nền tảng quan trọng cho tiến trình phân cấp quản lý ngân sách, từng bước nâng cao tính chủ động của địa phương, đồng thời giữ vững vai trò chủ đạo của NSTW. Trước yêu cầu phát triển mới và đòi hỏi phân bổ nguồn lực công bằng, hợp lý hơn giữa các vùng miền, việc rà soát, hoàn thiện cơ chế phân chia thuế GTGT cho từng địa phương trở thành yêu cầu tất yếu.

Hoàn thiện cơ chế phân chia thuế GTGT là bước đi quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế tài chính - ngân sách quốc gia. Ảnh: internet
Giải quyết các bất cập trong thực tiễn
Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13, thuế GTGT thu từ hàng hóa nhập khẩu là khoản thu NSTW hưởng 100%; thuế GTGT thu từ hàng hóa sản xuất, dịch vụ trong nước là khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP theo tỷ lệ phần trăm do Quốc hội quyết định và ổn định trong suốt thời kỳ ngân sách.
Cơ chế phân chia này cùng với việc điều tiết các khoản thu khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và thuế thu nhập cá nhân đã góp phần tạo điều kiện để các địa phương từng bước tự cân đối nguồn thu tại chỗ, giảm phụ thuộc vào hỗ trợ từ trung ương. Đến năm 2025, đã có 6/34 địa phương tự cân đối được ngân sách.
Thuế GTGT thu từ hàng nhập khẩu do NSTW hưởng 100% cũng giúp trung ương có nguồn lực thực hiện hoàn thuế theo quy định. Giai đoạn 2021-2025, số hoàn thuế GTGT chiếm khoảng 25,7% tổng số thu thuế GTGT, bình quân NSTW chi hoàn thuế khoảng 160 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Một số địa phương có nguồn thu lớn từ thuế GTGT do tập trung doanh nghiệp đăng ký trụ sở hoặc cơ sở sản xuất quy mô lớn đã thực hiện điều tiết một phần về NSTW, qua đó tạo thêm nguồn lực để trung ương hỗ trợ các địa phương khó khăn thông qua bổ sung cân đối hoặc bổ sung có mục tiêu.
Hệ thống quy định về phân cấp, phân chia nguồn thu trong luật và các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thời gian qua đã góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong quản lý ngân sách. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng phát sinh một số tồn tại, vướng mắc.
Theo Bộ Tài chính, thuế GTGT từ hàng hóa sản xuất, dịch vụ trong nước là một trong những khoản thu lớn của NSNN, năm 2024 đạt khoảng 316 nghìn tỷ đồng, chiếm 14,4% tổng thu; năm 2025 ước khoảng 404 nghìn tỷ đồng, chiếm 14,3% tổng thu. Dù là khoản thu phân chia, nhưng chỉ có 18/63 địa phương trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và 6/34 địa phương sau sắp xếp có điều tiết một phần số thu này về NSTW, các địa phương còn lại hưởng 100% số thu, trong khi NSTW lại đảm bảo toàn bộ nhu cầu chi hoàn thuế.
Quan trọng hơn, việc phân chia thuế GTGT theo nơi sản xuất chưa phù hợp với bản chất của sắc thuế này. Thuế GTGT là thuế gián thu, do người tiêu dùng cuối cùng chịu. Việc thu và kê khai thuế tại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc cơ sở sản xuất khiến nguồn thu tập trung chủ yếu tại các địa phương có nhiều doanh nghiệp lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai…, trong khi các tỉnh miền núi, Tây Nguyên - nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn hầu như không có cơ sở sản xuất lớn nên nguồn thu GTGT không đáng kể, dù người dân vẫn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ do địa phương khác sản xuất, cung cấp.
Bộ Tài chính đánh giá, nếu tiếp tục duy trì cách phân chia này, nguồn thu sẽ tiếp tục dồn về các trung tâm sản xuất, làm gia tăng chênh lệch phát triển vùng miền và chưa phản ánh đúng bản chất thuế đánh vào tiêu dùng cuối cùng.
Cụ thể hóa quy định của luật mới
Thực tiễn quốc tế cho thấy, đa số quốc gia không phân chia thuế GTGT theo nơi sản xuất mà phân chia số thu ròng sau hoàn thuế cho địa phương theo công thức dựa trên dân số, tiêu dùng hoặc GDP. Tại Nhật Bản, 29,5% số thu ròng thuế GTGT được phân chia cho địa phương theo tỷ lệ tiêu dùng. Hàn Quốc phân chia 13,27% tổng thu thuế quốc gia, bao gồm cả thuế GTGT ròng. Trung Quốc hiện phân chia 46% cho địa phương sau lộ trình điều chỉnh tăng dần qua các năm. Đức phân bổ 49,5% số thu ròng thuế GTGT cho các bang theo tiêu chí dân số. Điểm chung của các mô hình này là tập trung số thu về trung ương, sau đó phân bổ lại dựa trên tiêu chí phản ánh sức mua và mức độ phát triển.
Tại Việt Nam, thực hiện Văn kiện Đại hội XIII và nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế hiện hành, Chính phủ đã xây dựng Đề án đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước, trong đó có nội dung đổi mới phân chia thuế GTGT. Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 93-KL/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ NSNN để bảo đảm vai trò chủ đạo của NSTW và tính chủ động của NSĐP. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15.
Tại khoản 2 Điều 36 của luật này quy định rõ: thuế GTGT không bao gồm số được hoàn theo quy định của Luật Thuế GTGT được phân chia theo tỷ lệ NSTW hưởng 70%, NSĐP hưởng 30%; việc phân chia cụ thể cho từng địa phương trên cơ sở nguyên tắc, tiêu chí trong từng giai đoạn do Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Đây là thay đổi căn bản về phương thức phân chia, chuyển từ cơ chế gắn với nơi sản xuất sang cơ chế phân bổ theo nguyên tắc, tiêu chí thống nhất trên phạm vi cả nước.
Để cụ thể hóa quy định của luật mới và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định nguyên tắc, tiêu chí phân chia 30% thuế GTGT phần NSĐP được hưởng. Phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết là nguyên tắc, tiêu chí phân chia 30% số thu này; số thu dùng để phân chia không bao gồm số thuế GTGT được hoàn, thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, thu từ nhà cung cấp nước ngoài và thu từ hoạt động xổ số. Đối tượng áp dụng là các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến ngân sách nhà nước.
Dự thảo Nghị quyết gồm 7 điều, quy định đầy đủ về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc phân chia, tiêu chí và định mức phân chia, tổ chức thực hiện, hiệu lực và giám sát. Mục đích ban hành nhằm cụ thể hóa thẩm quyền được giao tại khoản 2 Điều 36 của Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, tạo cơ sở pháp lý để triển khai lập và chấp hành dự toán ngân sách từ năm 2027.
Dự thảo được Bộ Tài chính xây dựng bám sát định hướng của Đảng và Nhà nước, tuân thủ quy định pháp luật, kế thừa những mặt tích cực của cơ chế hiện hành, đồng thời khắc phục những bất cập trong phân chia thuế GTGT. Việc phân chia chỉ áp dụng đối với số thu ròng sau hoàn thuế, bảo đảm phản ánh đúng bản chất khoản thu, đồng thời tính đến khả năng tự cân đối của các địa phương vùng khó khăn, vùng kinh tế chiến lược và các cực tăng trưởng.
Nghị định được xây dựng cũng góp phần hoàn thiện cơ chế điều tiết nguồn lực tài chính quốc gia theo hướng hiệu quả, bền vững và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Nguyên tắc công khai, minh bạch, tiêu chí rõ ràng, có khả năng định lượng được đặt lên hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao và củng cố niềm tin của các địa phương vào cơ chế điều tiết mới.
Việc hoàn thiện cơ chế phân chia thuế GTGT không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật ngân sách mà là bước đi quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế tài chính - ngân sách quốc gia theo hướng an toàn, bền vững, bảo đảm vai trò chủ đạo của NSTW, đồng thời tạo động lực và điều kiện phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, miền trong giai đoạn mới.
