Trao đổi cùng Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, Luật sư Nguyễn Ngọc Hà cho rằng, ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng/năm cho hộ kinh doanh là phù hợp trong bối cảnh hiện nay, nhưng để phát huy hiệu quả, cần kết hợp với các giải pháp về quản lý thuế, chống thất thu và hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh lên mô hình doanh nghiệp khi đạt đến quy mô nhất định, nếu không ngân sách sẽ đứng trước nguy cơ thất thu.
Trong bối cảnh Bộ Tài chính đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế cho hộ kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm, nhiều ý kiến cho rằng việc điều chỉnh chính sách là cần thiết để phù hợp với quy mô kinh doanh và sức chịu đựng của khu vực hộ cá thể hiện nay.
Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở con số 500 triệu đồng, mà còn liên quan đến bài toán thất thu ngân sách, kẽ hở trốn thuế, sự khác biệt biên lợi nhuận giữa các ngành nghề và nhu cầu hỗ trợ khu vực siêu nhỏ, nhất là ở nông thôn và chợ truyền thống.
Xung quanh những vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Ngọc Hà, Giám đốc khối Luật, Công ty Luật SBLAW để làm rõ các khía cạnh chính sách và gợi mở hướng điều chỉnh hệ thống thuế theo hướng công bằng, minh bạch và thúc đẩy kinh doanh.
Hộ kinh doanh lo bớt gánh nặng
.png)
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
- Mới đây, Bộ Tài chính đã đề xuất ngưỡng chịu thuế cho hộ kinh doanh là 500 triệu đồng/năm. Bà đánh giá như thế nào về ngưỡng chịu thuế này?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế cho hộ kinh doanh lên mức 500 triệu đồng/năm là một bước điều chỉnh hợp lý trong bối cảnh hiện nay, nhưng mức độ “phù hợp” còn phụ thuộc vào mục tiêu chính sách mà Nhà nước hướng tới.
Thứ nhất, xét về mặt kinh tế – xã hội, việc nâng ngưỡng chịu thuế lên 500 triệu đồng giúp giảm bớt gánh nặng cho các hộ kinh doanh nhỏ, siêu nhỏ, đặc biệt là những hộ kinh doanh cá thể ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Trong giai đoạn kinh tế phục hồi, chi phí đầu vào tăng, sức mua chưa thật sự ổn định, việc nâng ngưỡng đến 500 triệu đồng giúp họ duy trì hoạt động, có thêm nguồn lực để phát triển. Điều này phù hợp với chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh sau đại dịch.
Thứ hai, xét về thuộc tính của nền kinh tế thị trường, mức 500 triệu đồng/năm phản ánh tương đối phù hợp với tốc độ trượt giá, lạm phát và quy mô kinh doanh phổ biến hiện nay. Ngưỡng 100 triệu đồng trước đây đã trở nên lỗi thời, không còn phản ánh đúng khả năng tạo thu nhập của các hộ kinh doanh. Nếu tiếp tục giữ ngưỡng cũ, nhiều hộ kinh doanh quy mô trung bình vô tình bị “đánh đồng” với nhóm nhỏ và siêu nhỏ, gây bất bình đẳng trong chính sách thuế.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu ngưỡng chịu thuế được nâng lên mức 500 triệu/năm, nguy cơ thất thu ngân sách có thể xảy ra, đặc biệt đối với nhóm hộ kinh doanh có lợi nhuận lớn nhưng phân tán, khó kiểm soát.
Do đó, tôi cho rằng mức 500 triệu đồng cũng cần đi kèm cơ chế quản lý thị trường, hóa đơn điện tử, và kiểm soát dòng tiền để tránh tình trạng lợi dụng tách hộ kinh doanh nhằm né thuế.
Tóm lại, theo quan điểm của tôi, ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng/năm là phù hợp trong bối cảnh hiện nay, nhưng để phát huy hiệu quả, cần kết hợp với các giải pháp về quản lý thuế, chống thất thu và hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh lên mô hình doanh nghiệp khi đạt đến quy mô nhất định.
- Như bà nói, việc nâng ngưỡng miễn thuế có thể gây thất thu ngân sách hay tạo kẽ hở trốn thuế khiến ngân sách thất thu. Vậy chúng ta cần cơ chế kiểm soát thế nào?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Việc nâng ngưỡng miễn thuế cho hộ kinh doanh có thể tiềm ẩn nguy cơ thất thu ngân sách nếu không đi kèm cơ chế giám sát phù hợp. Khi ngưỡng miễn thuế tăng, một bộ phận hộ kinh doanh có doanh thu thực tế cao hơn nhưng kê khai thấp để được miễn thuế; hoặc tách nhỏ hoạt động thành nhiều hộ đứng tên người thân nhằm né thuế. Đây là những rủi ro phổ biến nếu quản lý doanh thu chưa chặt chẽ.
Để hạn chế kẽ hở, các chuyên gia cho rằng cần áp dụng một loạt biện pháp kiểm soát đồng bộ. Trước hết là bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử cho hầu hết giao dịch, qua đó cơ quan thuế có thể kiểm soát dòng doanh thu theo thời gian thực. Cùng với đó, cần tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế và các đơn vị cung cấp dịch vụ như ngân hàng, sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển… nhằm xác thực doanh thu thực tế của hộ kinh doanh.
Ngoài ra, việc thanh tra rủi ro theo ngành nghề – thay vì kiểm tra tràn lan – cũng giúp phát hiện các trường hợp bất thường mà không gây phiền hà cho hộ kinh doanh nhỏ. Bên cạnh đó, quy định xử phạt hành vi tách hộ, lập hộ “ảo” để né thuế cần được cụ thể hóa hơn nữa.
- Vậy, chúng ta có nên áp dụng mức miễn thuế theo ngành nghề vì biên lợi nhuận khác nhau không, thưa bà?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Việc áp dụng mức miễn thuế theo từng ngành nghề là một hướng tiếp cận hợp lý và đáng cân nhắc. Lý do là biên lợi nhuận giữa các nhóm ngành rất khác nhau, dẫn tới khả năng đóng góp ngân sách cũng khác nhau. Có những ngành có doanh thu lớn nhưng lợi nhuận thực rất thấp như bán lẻ tạp hóa, ăn uống bình dân, vận tải nhỏ… Trong khi đó, một số ngành lại có biên lợi nhuận cao hơn như dịch vụ sửa chữa, làm đẹp, tư vấn cá nhân.
Nếu áp dụng cùng một ngưỡng doanh thu cho tất cả các ngành, sẽ không phản ánh đúng năng lực thực sự của từng nhóm hộ kinh doanh. Điều này có thể khiến những ngành biên lợi nhuận thấp chịu gánh nặng thuế quá sức, trong khi một số ngành lợi nhuận cao lại đang được ưu ái không cần thiết.
Việc phân theo ngành nghề sẽ tạo ra sự công bằng hơn, vì ngưỡng doanh thu chịu thuế có thể gắn với đặc thù chi phí và mức sinh lời của ngành. Tuy nhiên, để cơ chế này khả thi, Nhà nước cần có bộ dữ liệu chuẩn về biên lợi nhuận trung bình theo ngành, tránh việc áp ngưỡng một cách cảm tính, cũng như phải bảo đảm thủ tục đơn giản để không phát sinh thêm gánh nặng hành chính cho cả cơ quan thuế và người kinh doanh.
Tôi cho rằng đây là hướng đi hợp lý về mặt nguyên tắc, nhưng cần triển khai thận trọng, có cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý rõ ràng để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.
- Với nhóm hộ kinh doanh siêu nhỏ ở nông thôn, chợ truyền thống, bà đề xuất chính sách thuế như thế nào để hỗ trợ mà vẫn minh bạch?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Đối với nhóm hộ kinh doanh siêu nhỏ ở nông thôn và các chợ truyền thống, thiết nghĩ, chính sách thuế cần theo hướng “đơn giản – nhẹ gánh – nhưng vẫn minh bạch”. Đây là nhóm có doanh thu nhỏ, thu nhập bấp bênh và phụ thuộc lớn vào yếu tố mùa vụ. Vì vậy, mục tiêu quan trọng nhất là không để thuế trở thành rào cản khiến họ thu hẹp hoạt động hoặc rơi vào khu vực phi chính thức.
Thứ nhất, nên áp dụng mức ngưỡng doanh thu miễn thuế cao hơn đối với khu vực nông thôn, chợ truyền thống. Điều này phản ánh đúng thực tế chi phí cao – lợi nhuận thấp của nhóm này. Miễn hoặc giảm thuế giúp họ có dư địa tái đầu tư và duy trì hoạt động ổn định.
Thứ hai, cần áp dụng chế độ thuế khoán theo mức tối giản, tức là ấn định mức thuế dựa trên quy mô quầy, loại hàng hóa và đặc điểm địa bàn, thay vì yêu cầu kê khai phức tạp. Cách làm này vừa phù hợp với khả năng của tiểu thương, vừa giúp cơ quan thuế dễ quản lý.
Thứ ba, để đảm bảo minh bạch, cần công khai bảng thuế khoán theo ngành – theo chợ – theo địa bàn, niêm yết ngay tại chợ và trên cổng thông tin của cơ quan thuế. Điều này tránh được tình trạng thuế thu tùy tiện hoặc không thống nhất giữa các địa phương.
Tóm lại, chính sách thuế đối với hộ siêu nhỏ ở nông thôn và chợ truyền thống phải hướng tới hỗ trợ là chính, nhưng vẫn đảm bảo minh bạch thông qua công khai. Đây là cách dung hòa giữa lợi ích ngân sách và mục tiêu phát triển kinh tế cơ sở.
.png)
Bà Nguyễn Ngọc Hà cho rằng ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng/năm cho hộ kinh doanh là phù hợp trong bối cảnh hiện nay, nhưng để phát huy hiệu quả, cần kết hợp với các giải pháp về quản lý thuế, chống thất thu và hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh lên mô hình doanh nghiệp.
- Vậy, khi điều chỉnh ngưỡng miễn thuế, cần thay đổi cách xác định doanh thu khoán hay phương pháp thu thuế ra sao để tránh méo mó thị trường?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Rủi ro lớn nhất của thuế khoán hiện nay là sự phụ thuộc vào kê khai chủ quan và cơ chế "ấn định" thiếu dữ liệu thực. Khi ngưỡng miễn thuế tăng lên, động lực để các hộ kinh doanh lớn "ẩn mình" dưới vỏ bọc hộ nhỏ lẻ càng cao.
Để giải quyết, cần thay đổi căn cứ xác định doanh thu khoán, cụ thể phải chuyển từ cơ chế “thỏa thuận” sang quản lý dựa trên chứng cứ vật chất. Cụ thể, việc áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền cần trở thành điều kiện bắt buộc, kể cả với hộ khoán. Cơ quan thuế cần quyền ấn định doanh thu dựa trên dữ liệu đầu vào (điện, nước, nhân công, mặt bằng) thay vì chỉ nhìn vào con số kê khai đầu ra. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khấu trừ thuế tại nguồn hoặc chia sẻ dữ liệu tự động từ các sàn thương mại điện tử đối với các tài khoản kinh doanh vượt ngưỡng. Điều này đảm bảo tính minh bạch và công bằng với các doanh nghiệp kê khai đầy đủ.
Trong kỷ nguyên số, việc quản lý thuế không thể tách rời trách nhiệm của các đơn vị trung gian. Luật Quản lý thuế cần quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử và ngân hàng thương mại.
Một kẽ hở pháp lý khác là tình trạng một chủ thể mượn danh nghĩa người thân để mở nhiều cửa hàng, chia nhỏ doanh thu nhằm né thuế.
Giải pháp được đưa ra là luật hóa việc đánh thuế theo "Chủ thể kinh doanh thực tế" thay vì chỉ dựa trên giấy phép đăng ký hộ kinh doanh. Đồng thời, cần phân tầng quản lý dứt khoát: Nhóm mưu sinh nhỏ lẻ được ưu đãi đơn giản hóa thủ tục; nhưng nhóm hộ kinh doanh quy mô lớn (doanh thu hàng tỷ đồng) buộc phải chuyển đổi sang chế độ kế toán doanh nghiệp hoặc phương pháp kê khai, chấm dứt việc nộp thuế khoán.
- Nói như bà thì chính sách thuế nên hướng tới đặt mục tiêu ưu tiên kích thích kinh doanh chứ không phải là tăng thu ngân sách?
Luật sư Nguyễn Ngọc Hà: Tôi cho rằng chính sách thuế đối với hộ kinh doanh nên ưu tiên mục tiêu kích thích kinh doanh nhỏ lẻ, bởi khu vực này thường bắt đầu với quy mô rất nhỏ, nguồn lực hạn chế, khả năng tiếp cận thông tin và kỹ năng quản lý còn yếu.
Nếu phải đối mặt với thủ tục thuế phức tạp hoặc gánh nặng thuế quá lớn, họ sẽ thiếu động lực khởi sự hoặc buộc phải thu hẹp hoạt động. Ngược lại, khi chính sách thuế đơn giản, dễ tuân thủ và có tính hỗ trợ, hộ kinh doanh sẽ mạnh dạn tham gia thị trường. Một chính sách thuế thân thiện cũng giúp khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển từ hoạt động phi chính thức sang chính thức, mở rộng cơ sở thuế và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Đồng thời, gánh nặng thuế nhẹ tạo điều kiện cho các hộ thử nghiệm mô hình mới, sản phẩm mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở quy mô nhỏ.
Xét trên phương diện xã hội, đa số hộ kinh doanh là nguồn thu nhập chính của gia đình, nên hỗ trợ họ thông qua chính sách thuế thể hiện tính nhân văn và phù hợp với bối cảnh Việt Nam.Trong ngắn hạn có thể giảm số thu ngân sách, nhưng về dài hạn, khi các hộ phát triển và chuyển lên doanh nghiệp, nguồn thu sẽ lớn hơn và bền vững hơn.
Công bằng thuế, không phải đánh thuế như nhau, mà là áp dụng chính sách phù hợp với đặc thù từng nhóm đối tượng; hộ kinh doanh nhỏ yếu thế hơn doanh nghiệp lớn nên cần được ưu tiên hỗ trợ. Vì vậy, đặt trọng tâm vào kích thích kinh doanh nhỏ lẻ không chỉ đúng về mặt xã hội mà còn là hướng đi hiệu quả để đạt được cả mục tiêu công bằng và tăng thu ngân sách trong dài hạn.
Trân trọng cảm ơn bà!
Thảo Nguyên thực hiện!
