Quy định giữ nguyên nhóm nợ, trong dự thảo Thông tư cho vay nông nghiệp, đang tạo ra những ý kiến trái chiều giữa ngân hàng và cơ quan quản lý.

Nhiều ngân hàng băn khoăn quy định giữ nguyên nhóm nợ tại Dự thảo Thông tư cho vay nông nghiệp nông thôn. Ảnh: Hải Nguyễn.
Trong quá trình góp ý cho Dự thảo Thông tư hướng dẫn tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, vấn đề “giữ nguyên nhóm nợ” đã trở thành chủ đề tranh luận đáng chú ý.
Theo khoản 1 Điều 3 dự thảo, “tổ chức tín dụng xem xét quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ gốc, lãi và giữ nguyên nhóm nợ đối với khoản nợ có số dư nợ gốc, lãi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ như nhóm nợ đã được phân loại theo quy định hiện hành tại thời điểm gần nhất trước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư này”.
TPBank và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đề nghị chỉnh sửa theo hướng: tổ chức tín dụng xem xét quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ gốc và/hoặc lãi và giữ nguyên nhóm nợ đối với khoản nợ có số dư nợ gốc và/hoặc lãi được cơ cấu lại.... Lý do, theo các đơn vị này, là để phù hợp với quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN, vốn cho phép cơ cấu lại cả nợ gốc và/hoặc lãi.
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng cũng băn khoăn về khái niệm “thời điểm gần nhất trước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ”. Một số ý kiến đặt câu hỏi: nếu tổ chức tín dụng tự phân loại nhóm nợ, sau đó điều chỉnh lại theo dữ liệu do CIC cung cấp, thì việc giữ nguyên nhóm nợ sẽ căn cứ vào thời điểm nào?
Giải trình vấn đề này, NHNN nhấn mạnh: “Thời điểm gần nhất trước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ là thời điểm gần nhất trước khi thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Nhóm nợ theo quy định tại Thông tư 02 là nhóm nợ đã được điều chỉnh theo thông tin của CIC tại thời điểm gần nhất trước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ (là trường hợp 1 đã được điều chỉnh theo thông tin CIC gần nhất)”.
Trong khi đó, PGBank đặt câu hỏi về cách xác định “số dư nợ gốc phát sinh” trong quy định. Ngân hàng này đề nghị làm rõ liệu đó là phần nghĩa vụ trả nợ trong thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hay toàn bộ dư nợ gốc.
NHNN phản hồi rằng: “Là số dư nợ gốc của khoản nợ của khách hàng phát sinh trước hoặc trong khoảng thời gian xảy ra nguyên nhân khách quan, bất khả kháng. Ví dụ, khách hàng được giải ngân 02 lần; mỗi lần 100 triệu đồng vào ngày 31.8, 30.9. Khoảng thời gian xảy ra nguyên nhân khách quan là từ 05.9–10.9; vậy dư nợ gốc phát sinh theo quy định tại khoản này là 100 triệu đồng”.
Một điểm khác gây tranh luận là mức quá hạn được phép giữ nguyên nhóm nợ.
TPBank và Hiệp hội Ngân hàng đề nghị sửa quy định thành “quá hạn dưới 10 ngày” để phù hợp với Thông tư 31/2024/TT-NHNN. Tuy nhiên, NHNN không tiếp thu, với lý do: “Điểm b khoản 1 Điều 3 Dự thảo Thông tư và Điều 10 Thông tư 31/2024/TT-NHNN không có sự chênh lệch... trường hợp xác định thời gian quá hạn kể từ ngày đến hạn thì đều là 10 ngày; trường hợp xác định kể từ ngày quá hạn thì đều là dưới 10 ngày”.
Đáng chú ý, Vietcombank đề nghị NHNN bổ sung hướng dẫn cụ thể về cách hiểu “một nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể”.
Tuy nhiên, NHNN cho rằng quy định đã đủ rõ: “Nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể sẽ được TCTD và khách hàng xác định theo từng lần... ví dụ tháng 5 và tháng 8 ngân hàng và khách hàng xác định là 02 nguyên nhân cụ thể thì được tính là 02 nguyên nhân khác nhau”.
Như vậy, các ý kiến tranh luận xoay quanh việc diễn giải và áp dụng quy định giữ nguyên nhóm nợ đã được NHNN giải trình, tiếp thu một phần. Tuy nhiên, nhiều quy định quan trọng vẫn được giữ nguyên nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý thống nhất cho các tổ chức tín dụng khi triển khai thực tế.
Thuận Hiền
