Theo ông Nguyễn Thế Minh, mục tiêu nâng quy mô vốn hóa lên 100% GDP vào năm 2026 được xem là điều kiện quan trọng giúp thị trường chứng khoán Việt Nam duy trì vị thế và tăng khả năng trụ hạng trong các bộ chỉ số quốc tế.
Như Nhadautu.vn đã đưa tin, tại Lễ đánh cồng Khai trương giao dịch chứng khoán đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng trong bài phát biểu đã nhấn mạnh Bộ Tài chính cam kết sẽ tiếp tục bám sát, tạo mọi điều kiện, hỗ trợ tối đa để thị trường chứng khoán phát triển ổn định, an toàn, bền vững, phấn đấu quy mô thị trường năm 2026 đạt ít nhất 100% GDP.
Mục tiêu vốn hóa thị trường chứng khoán/GDP từng được đề cập tại Quyết định 1726/QĐ-TTg (ngày 29/12/2023) phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030. Trong đó, đặt mục tiêu quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP vào năm 2025 và đạt 120% GDP trong năm 2030.
Trao đổi với Nhadautu.vn, các chuyên gia, nhà đầu tư kỳ cựu đều lạc quan cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu vốn hóa thị trường/GDP 100% trong năm 2026.
Kỳ vọng này dựa trên lập luận rằng VN-Index còn nhiều dư địa tăng điểm nhờ định giá P/E hợp lý, triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết tích cực, dòng vốn ngoại từ nâng hạng thị trường…
Mặt khác, yếu tố khác thúc đẩy gia tăng vốn hóa thị trường còn đến từ kỳ vọng đẩy mạnh cổ phần hóa, niêm yết doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân mới IPO và niêm yết; cùng các thương vụ chào bán cổ phần của doanh nghiệp niêm yết…
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Chứng khoán Yuanta Việt Nam nhìn nhận việc niêm yết mới các cổ phiếu khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân không những là một trong các giải pháp giúp chứng khoán Việt Nam đạt mục tiêu vốn hóa, mà còn đa dạng hóa “hàng hóa” niêm yết trên thị trường chứng khoán – yếu tố quan trọng hơn cả trong việc thu hút và giữ chân dòng vốn ngoại.
Quan trọng hơn, đạt mục tiêu vốn hóa/GDP sẽ gia tăng mức độ cạnh tranh của TTCK Việt Nam với các TTCK khác trong rổ chỉ số FTSE Russell, giúp TTCK có thể trụ hạng lâu hơn. “Rủi ro mất hạng luôn hiện hữu nếu vốn hóa thị trường quá nhỏ, thanh khoản quá thấp. Điển hình nhất là TTCK Pakistan bị MSCI hạ bậc xuống thị trường cận biên do không còn đáp ứng tiêu chí quy mô và thanh khoản”, ông Minh nói.
Thực tế cũng cho thấy vốn hóa/GDP của TTCK Việt Nam ở mức thấp so với một số TTCK trong khu vực. Tổng hợp các số liệu từ World Bank, CEIC, Siblis, MacroMicro… vốn hóa TTCK Việt Nam ở mức trung bình so với Malaysia (95,4–106,5%), Thái Lan (98,7–104%), Ấn Độ (111–134%)…
Bên cạnh cổ phiếu, ETF và chứng chỉ quỹ cũng là một trong những hướng đi vừa gia tăng vốn hóa, vừa giải bài toán dòng vốn cho các doanh nghiệp. Với đặc thù các cá nhân chiếm đa số cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam và ít nắm giữ lâu dài cổ phiếu, việc huy động vốn trên thị trường cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết là không dễ.
“Trong khi đó, nhà đầu tư tổ chức có xu hướng nắm cổ phiếu lâu dài, thậm chí còn đồng hành và phát triển cùng doanh nghiệp. Do vậy, rõ ràng việc huy động vốn từ quỹ đầu tư, ETF sẽ có lợi hơn. Ngoài ra, khi cơ cấu cổ đông có sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức này, giá cổ phiếu sẽ không có sự biến động quá lớn”, ông Minh bình luận.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng. Số liệu từ Chứng khoán SSI cho thấy để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 thì tăng trưởng tín dụng cần đạt đến 150%. Điều này sẽ tạo áp lực thanh khoản với hệ thống ngân hàng và rủi ro sẽ ngày càng lớn.
Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 chữ số, động lực này không chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà còn phải đến từ thị trường vốn.
Hóa Khoa
