Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc tái cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, mối liên kết chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sự phối hợp nhịp nhàng này là yếu tố then chốt để đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi nền kinh tế phải đối mặt với thách thức.
.jpg)
Mục tiêu cao nhất là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có xu hướng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, và 8 tháng đầu năm 2025 cũng tốt hơn cùng kỳ năm 2024 trên hầu hết các lĩnh vực. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn cho biết, xuất nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm đạt gần 598 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu gần 14 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 8,9% so với cùng kỳ, với ngành chế biến chế tạo duy trì tăng trưởng hai con số. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 tăng 10,6% so với cùng kỳ, trong khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng tăng 3,25%. Tình hình phát triển doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc với gần 210.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 8 tháng, tăng 24,5%. Du lịch cũng ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ, với 13,9 triệu lượt khách quốc tế trong 8 tháng, tăng 21,7%.
GS,TS. Hoàng Văn Cường, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Tài chính của Quốc hội cho rằng, không chỉ là đánh giá từ trong nước mà các tổ chức quốc tế cũng nhìn nhận Việt Nam là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế. Chính sự ổn định vĩ mô này đã tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư, giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn khi giá trị vốn đầu tư và đồng tiền được bảo toàn. Để đạt được kết quả đó, hai công cụ điều hành chủ đạo là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã phối hợp chặt chẽ, linh hoạt và hiệu quả. Chính sách tài khóa đóng vai trò hỗ trợ cho chính sách tiền tệ, giúp giảm bớt các cú sốc bất thường, từ đó tạo điều kiện cho tiền tệ phát huy vai trò thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng. Chính sách tiền tệ thì được điều hành rất linh hoạt, hiệu quả, đặc biệt, đặc biệt là chuyển rất nhanh từ trạng thái ưu tiên ổn định vĩ mô sang ưu tiên về tăng trưởng,
Cùng chung nhận định này, GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, thời gian qua, hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế, thông qua việc duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý, hạ lãi suất, đa dạng hóa kênh huy động vốn và từng bước cải thiện tính minh bạch của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - tài chính quốc tế biến động nhanh, lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao, áp lực tỷ giá và rủi ro nợ xấu gia tăng đòi hỏi Việt Nam phải thận trọng trong điều hành và kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) chỉ ra rằng, kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi về tăng trưởng trong giai đoạn 2021 - 2024, nhưng các chỉ số "trung gian" lại có dấu hiệu suy giảm so với giai đoạn 2016 - 2020. Cụ thể, số lao động có việc làm trong nền kinh tế giảm đáng kể, chưa phục hồi về mức trước dịch. Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2021 - 2024 hầu như không có sự chuyển dịch đáng kể. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư trên GDP có xu hướng giảm từ 34,8% năm 2020 xuống còn 32,07% năm 2024. Đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước giảm mạnh, trong khi đầu tư nhà nước và FDI tăng lên. Phân bổ vốn đầu tư chưa hợp lý khi đầu tư vào các ngành như vận tải kho bãi và hoạt động khác tăng mạnh trong khi đầu tư cho khoa học, công nghệ ở mức thấp và có xu hướng giảm. Một số chỉ số đo lường chất lượng tăng trưởng đi xuống như đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2021 - 2023 chỉ đạt 39,5%, thấp hơn giai đoạn 2016 - 2020. Tốc độ tăng năng suất lao động cũng giảm và hệ số ICOR (hệ số sử dụng vốn) lại cao hơn.
Một vấn đề quan trọng được các chuyên ra đặt ra hiện nay là nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa nhiều vào hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa phát huy hết tiềm năng. Dù thị trường cổ phiếu Việt Nam đã có quy mô khá lớn và được đánh giá là đang "mặc chiếc áo chật" ở thị trường cận biên. Kỳ vọng tới đây chúng ta sẽ được nâng hạng lên thị trường mới nổi sơ cấp. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu đáng lẽ là kênh dẫn vốn quan trọng cho doanh nghiệp lại vẫn đang gặp khó khăn.
Mục tiêu cao nhất là thúc đẩy tăng trưởng dài hạn
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, ít nhất là 8% cho năm 2025 và 2 con số trong những năm tiếp theo, theo các chuyên gia, điều kiện tiên quyết là phải giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, thể hiện qua 4 chỉ tiêu định lượng. Đó là giữ được lạm phát ở mức thấp để đảm bảo đời sống cho người lao động; tránh để giá bất động sản tăng phi mã gây ra nhiều hệ lụy kinh tế và xã hội; ổn định tỷ giá hối đoái để thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài, kiểm soát lạm phát và an toàn nợ nước ngoài; đảm bảo tính bền vững của nợ công… Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng lấy đầu tư công làm động lực chính cũng cho thấy vai trò của chính sách tài khóa trong nhiệm vụ này.
Trên cơ sở đó, GS,TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững là bài toán đa mục tiêu. Các mục tiêu lớn này thậm chí không cùng chiều, hoặc mâu thuẫn, như thúc đẩy tăng trưởng thường kéo theo vấn đề lạm phát. Do đó, đầu tiên là cần phối hợp chặt giữa lãi suất và tỷ giá - hai công cụ chính của chính sách tiền tệ; cần mở rộng cung tín dụng nhưng phải kiểm soát chặt dòng tiền, đảm bảo vốn đến đúng khu vực cần thiết cho sản xuất, có khả năng quay vòng nhanh, không bị thất thoát. Cùng với đó, chính sách tiền tệ cũng cần phối hợp chặt với chính sách tài khóa để hỗ trợ đối tượng ưu tiên tiếp cận vốn: thông qua bảo lãnh tín dụng, ưu đãi lãi suất, hoặc các gói tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, đổi mới sáng tạo, lĩnh vực ưu tiên.
Ngoài ra, chính sách tài khóa cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ ngắn hạn sang tạo nền tảng dài hạn. Theo đó, về thu, cần cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công bằng và không tạo áp lực cho người nộp thuế. Đồng thời, phải tính đến mở rộng các đối tượng có thể tạo ra nguồn thu như: đánh thuế hoạt động số, tài sản số, kinh tế số… Đặc biệt, cần có công cụ thuế quản lý bất động sản và đất đai. Đây là một trong những nguồn thu khá lớn ở các quốc gia phát triển. Về chi, cần khai tác tối đa dư địa nợ công thấp để đầu tư vào các lĩnh vực có tính bứt phá, nhất là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thậm chí là đầu tư mạo hiểm. Đồng thời, phương thức đầu tư công cũng cần thay đổi, thay vì chỉ nhà nước đầu tư thì cần khuyến khích tư nhân tham gia thông qua hình thức PPP, đặt hàng, hợp tác…, GS,TS. Hoàng Văn Cường đề xuất.
