Tại các quốc gia phát triển hàng đầu hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân có vị trí quan trọng và vai trò đáng kể trong mô hình phát triển kinh tế. Việt Nam cũng đang đứng trước cơ hội đổi mới quan trọng, khi nhiều tập đoàn tư nhân đã vươn mình phát triển bứt phá, không chỉ đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, mà còn đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường khu vực và thế giới.

Doanh nghiệp mạnh = quốc gia mạnh
Cách đây vài năm, trong một dịp ngồi ở quán cà phê Trung Nguyên, tôi đọc được tự truyện “Không bao giờ là thất bại - Tất cả là thử thách” của ông Chung Ju Yung - người sáng lập và là cố Chủ tịch của Tập đoàn Hyundai (Hàn Quốc).
Cuốn sách thuật lại hành trình vượt qua những khó khăn và thử thách của Chủ tịch Yung để đưa tập đoàn Hyundai - một doanh nghiệp tư nhân xây dựng sửa chữa nhỏ ban đầu thành một tập đoàn công nghiệp hàng đầu và là trụ cột kinh tế Hàn Quốc sau này. Theo ông Yung, doanh nghiệp mạnh = quốc gia mạnh, thành công cá nhân phải gắn với trách nhiệm dân tộc. Do đó, dễ hiểu vì sao Hyundai về sau này không chỉ là công ty kiếm lợi nhuận, mà còn là công cụ xây dựng năng lực quốc gia và gắn chặt với chiến lược công nghiệp hóa rất thành công của Hàn Quốc.
Ngoài Hyundai thì Samsung, LG, SK hay Lotte Group là những tập đoàn kinh tế tư nhân khổng lồ của Hàn Quốc (chaebol) - mô hình đã phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1960 và gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia. Các chaebol đã giúp Chính phủ Hàn Quốc thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh, với các khoản đầu tư quy mô lớn (vào ngành thép, đóng tàu, ô tô, điện tử), chấp nhận rủi ro và đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu. Ngược lại, chính quyền cũng hỗ trợ chaebol bằng các chính sách phân bổ tín dụng với lãi suất thấp, ưu tiên chiến lược ngành, hỗ trợ mở thị trường...
Tuy khó có thể áp dụng chính sách phân bổ tín dụng hay cung cấp các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp cho các tập đoàn tư nhân như cách mà Hàn Quốc đã áp dụng cho các chaebol trong quá khứ, nhưng Việt Nam có thể tạo cơ chế để khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn dài hạn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, bằng cách phát triển thị trường vốn, trái phiếu hay các quỹ đầu tư, bên cạnh các cơ chế thúc đẩy đổi mới, tài trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao...
Nếu như mô hình chaebol của Hàn Quốc có nhược điểm tập trung quyền lực vào một gia đình, quốc gia láng giềng là Nhật Bản đã đi theo mô hình keiretsu - mạng lưới các doanh nghiệp Nhật Bản liên kết lâu dài với nhau thông qua sở hữu chéo, quan hệ ngân hàng trung tâm và hợp tác chiến lược. Các keiretsu nổi tiếng như Toyota, Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo... đã đóng vai trò cốt lõi giúp Nhật Bản hồi phục nhanh chóng sau Thế chiến thứ 2 và rất nhanh sau đó vươn lên mạnh mẽ thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.
Có thể thấy tại các quốc gia phát triển hàng đầu hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân có vị trí quan trọng và vai trò đáng kể trong mô hình phát triển kinh tế. Nhìn vào Mỹ, các tập đoàn tư nhân hàng đầu một thời như Standard Oil, Carnegie Steel, General Electric, Ford Motor hay JPMorgan... cũng đã giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đưa nước này lên vị trí số 1 thế giới. Ngày nay, sức mạnh của Mỹ vẫn được duy trì và tiếp tục thống trị các lĩnh vực then chốt của thế kỷ 21 nhờ các tập đoàn tư nhân khổng lồ trong lĩnh vực công nghệ như Apple, Microsoft, Alphabet (Google), Amazon, Meta (Facebook), Tesla, Nvidia...
Ngay cả Trung Quốc, những năm qua cũng chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực tư nhân, với đóng góp ngày càng lớn hơn vào nền kinh tế nước này, thể hiện qua bộ số 60/70/80/90, tức tư nhân đóng góp khoảng 60% GDP, 70% năng lực đổi mới, 80% việc làm đô thị, 90% việc làm mới. Các tập đoàn tư nhân khổng lồ như Alibaba, Tencent, Baidu, Huawei, Xiaomi, BYD... đã giúp Trung Quốc vươn ra thế giới, định hình lại trật tự kinh tế và công nghệ toàn cầu, đồng thời gia tăng đáng kể sức mạnh mềm và vị thế địa chính trị của Trung Quốc.
Đáng lưu ý, trong năm 2025, Trung Quốc đã ban hành Luật Thúc đẩy kinh tế tư nhân (Private Economy Promotion Law), một văn bản pháp luật quan trọng nhằm cải thiện môi trường pháp lý, mở cửa thị trường cho khu vực tư nhân, cho phép kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng GDP và giải quyết việc làm...
Kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam
Trong tác phẩm “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới” của Giáo sư Đặng Phong, người ta có thể thấy sự thay đổi vĩ đại luôn cần những con người cụ thể, có trí tuệ, lòng dũng cảm và tinh thần dám nghĩ, dám làm, và dám chịu trách nhiệm... ở mọi cấp. Chính nhờ những cá nhân, tập thể ấy, đã mở đường dọn lối, tạo tiền đề cho công cuộc “đổi mới” chính thức năm 1986 (Đại hội Đảng lần VI), chấp nhận kinh tế nhiều thành phần và đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng.
Ngay cả Trung Quốc, những năm qua cũng chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực tư nhân, với đóng góp ngày càng lớn hơn vào nền kinh tế nước này, thể hiện qua bộ số 60/70/80/90, tức tư nhân đóng góp khoảng 60% GDP, 70% năng lực đổi mới, 80% việc làm đô thị, 90% việc làm mới.
Sau 40 năm, Việt Nam đang đứng trước một sự đổi mới quan trọng khác, với Nghị quyết 68-NQ/TW (năm 2025) lần đầu tiên xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”. Đây được xem là một bước đột phá chiến lược, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho kinh tế tư nhân mà còn hứa hẹn một kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Nói cách khác, nếu “đổi mới” 1986 đã mở cánh cửa cho kinh tế tư nhân, thì Nghị quyết 68 đẩy cánh cửa đó ra thật rộng, tạo đà cho khu vực này trở thành động lực chính, kiến tạo một Việt Nam hùng cường. Nghị quyết 68 cũng là bước đi kế thừa tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW đã được đưa ra trước đó tám năm, về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thật ra, trong hơn 10 năm trở lại đây, nhiều tập đoàn tư nhân của Việt Nam đã vươn mình phát triển bứt phá, không chỉ đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, mà còn đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường khu vực và thế giới. Có thể kể đến như Vietjet, Vingroup/Vinfast, Masan, Trung Nguyên, Vinamilk, FPT, Thaco, Hòa Phát... Nhiều doanh nghiệp đã cạnh tranh sòng phẳng không chỉ với các doanh nghiệp nhà nước, mà còn với cả các tập đoàn đa quốc gia trên thị trường quốc tế.
Về cơ bản, các doanh nghiệp tư nhân, trước áp lực cạnh tranh quyết liệt, đã trở nên hiệu quả hơn, năng suất cao hơn, nên cũng giúp kéo năng suất của toàn nền kinh tế đi lên. Đặc biệt, các doanh nghiệp tư nhân cũng mạnh dạn đổi mới sáng tạo hơn, thương mại hóa công nghệ nhanh hơn và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để linh hoạt thử nghiệm mô hình mới. Nghị quyết 68 đặt mục tiêu năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực tư nhân thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm năm nước hàng đầu châu Á; tốc độ tăng trưởng khu vực tư nhân đạt bình quân 10-12%/năm, năng suất lao động tăng bình quân 8,5-9,5%/năm.
Ngoài ra, khu vực này cũng có khả năng tạo ra quy mô việc làm lớn, dẫn dắt chuỗi giá trị, kéo theo hệ sinh thái nhà cung ứng, dịch vụ, logistics, tài chính, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Nghị quyết 68 đặt mục tiêu có hai triệu doanh nghiệp, đóng góp 55-58% GDP, tạo việc làm cho khoảng 84-85% lực lượng lao động và đóng góp khoảng 35-40% vào ngân sách nhà nước; có ít nhất 20 doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân lớn có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thương hiệu tầm khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, để các tập đoàn tư nhân lớn mạnh một cách tự nhiên, các cơ quan quản lý cần tạo cơ chế cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực minh bạch, từ việc tiếp cận đất đai đến các dự án đầu tư, đấu thầu, dữ liệu, quy hoạch, tiêu chuẩn. Việc một số tập đoàn tư nhân gần đây tích cực tham gia vào các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng quốc gia là tín hiệu tích cực, vì không chỉ giúp Nhà nước tranh thủ được nguồn lực của khu vực tư nhân mà còn giúp các dự án đảm bảo tiến độ đầu tư, giảm bớt tình trạng trì trệ ở các dự án đầu tư công.
Bên cạnh đó, tuy khó có thể áp dụng chính sách phân bổ tín dụng hay cung cấp các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp cho các tập đoàn tư nhân như cách mà Hàn Quốc đã áp dụng với các chaebol trong quá khứ, nhưng Việt Nam có thể tạo cơ chế để khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn dài hạn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, bằng cách phát triển thị trường vốn, trái phiếu hay các quỹ đầu tư, bên cạnh các cơ chế thúc đẩy đổi mới, tài trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao...
Việc Việt Nam mới đây thành lập Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại TPHCM và Đà Nẵng không chỉ mang ý nghĩa “nâng tầm hội nhập”, mà chính là một “mảnh ghép thể chế” để mở khóa nguồn vốn dài hạn ở quy mô lớn và chi phí cạnh tranh. Theo đó, các tập đoàn tư nhân sẽ có thể chuyển từ tăng trưởng dựa vào vay ngân hàng sang cấu trúc vốn cân bằng hơn: phát hành trái phiếu dài hạn, trái phiếu xanh, huy động qua các quỹ đầu tư, gọi PE (Private Equity - đầu tư tư nhân) và VC (Venture Capital - đầu tư mạo hiểm) cho công nghệ...
Cuối cùng, việc cắt giảm chi phí tuân thủ bằng cải cách, giảm các thủ tục hành chính, giấy phép, thanh tra - kiểm tra luôn là điều cần thiết, cũng như phải bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tính nhất quán của chính sách và thực thi, tránh tình trạng “nay đúng mai sai” có thể làm xói mòn niềm tin của doanh nghiệp và gây tổn thất cho nhà đầu tư. Đây không phải là điều dễ dàng, vì thực tế ngay cả những nền kinh tế phát triển cũng đôi khi có sự thiếu nhất quán trong chính sách, đơn cử như chính sách năng lượng xanh của hai nhiệm kỳ tổng thống Mỹ gần đây.
Tuệ Nhiên
