Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Điều kiện cần và đủ để xây dựng trung tâm tài chính quốc tế
Chuyên mục:

Tài chính

VnEconomy | 15:35
Google news

Việt Nam nằm ở múi giờ khác với 21 trung tâm tài chính lớn nhất thế giới hiện nay, nếu xây dựng trung tâm tài chính quốc tế ở TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam có thể tận dụng để thu hút vốn nhàn rỗi trong thời gian nghỉ giao dịch từ các trung tâm này....

TP. Hồ Chí Minh là nơi được chọn để xây dựng trung tâm tài chính quốc tế.

Các trung tâm tài chính quốc tế thường có đặc điểm là tính thanh khoản cao, khung pháp lý phát triển tốt, cơ sở hạ tầng công nghệ tiên tiến và quy tụ các chuyên gia tài chính lành nghề. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc trung chuyển vốn, thúc đẩy giao thương quốc tế. Các trung tâm tài chính quốc tế thường thu hút các tập đoàn, tổ chức tài chính và nhà đầu tư toàn cầu, do đó góp phần nâng cao vị thế của quốc gia với tư cách là những người chơi có ảnh hưởng trong hệ thống tài chính toàn cầu.

VIỆT NAM CẦN CÓ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Các trung tâm tài chính quốc tế từ New York, London đến Tokyo, Frankfurt, Hồng Kông, Singapore và Thượng Hải đều đóng góp đáng kể vào sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế quốc gia tương ứng.

Tại Việt Nam, việc xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế đã được đưa ra thảo luận từ vài năm nay, song vẫn chưa có kế hoạch hành động cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu này.

Dĩ nhiên, sự trỗi dậy của một nền kinh tế không nhất thiết phải gắn liền với sự xuất hiện của một trung tâm tài chính quốc tế. Ví dụ tiêu biểu là những quốc gia công nghiệp phát triển như Hàn Quốc hay Ý, dù có những ngân hàng và tổ chức tài chính hoạt động trên toàn cầu, nhưng không đạt được vị thế như các trung tâm tài chính ở New York, London, Frankfurt hoặc Singapore.

Hơn nữa, cạnh tranh để trở thành trung tâm tài chính quốc tế rất khốc liệt, đặt ra thách thức rất lớn, đặc biệt đối với một quốc gia còn đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, việc xây dựng một trung tâm tài chính sẽ giúp Việt Nam thu hút các tổ chức tài chính nước ngoài, đồng thời tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế đến Việt Nam. Điều này sẽ tác động tích cực tới nguồn cung vốn, huyết mạch của nền kinh tế.

Quá trình xây dựng trung tâm tài chính quốc tế cũng sẽ giúp thị trường tài chính ở Việt Nam trở nên lành mạnh và hiệu quả, bắt kịp với các chuẩn mực quốc tế, từ đó thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển bền vững.

Việc kiểm soát các trung tâm tài chính quốc tế đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện và phối hợp bao gồm các quy định trong nước, tiêu chuẩn quốc tế, hợp tác giám sát và cơ chế thực thi hiệu quả. Mục đích là để duy trì sự ổn định tài chính, bảo vệ các nhà đầu tư, ngăn ngừa tội phạm tài chính và thúc đẩy tính toàn vẹn và lành mạnh của hệ thống tài chính toàn cầu.

Trung tâm tài chính quốc tế thiết lập khung pháp lý vững chắc để đảm bảo tính toàn vẹn và ổn định của thị trường tài chính. Chẳng hạn, các quy định bảo vệ nhà đầu tư, ứng xử trên thị trường, yêu cầu về vốn, quản lý rủi ro và tiêu chuẩn công bố thông tin. Cơ quan quản lý thực thi các quy tắc này và giám sát việc tuân thủ để duy trì niềm tin của thị trường.

Giám sát nhằm mục đích xác định và giảm thiểu rủi ro, phát hiện các hành vi sai trái tiềm ẩn và đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của các tổ chức tài chính. Các tổ chức quốc tế như Ủy ban Ổn định tài chính (FSB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, xây dựng và thúc đẩy các tiêu chuẩn kinh tế quốc tế và các thông lệ tốt nhất trong quy định và giám sát tài chính.

Các trung tâm tài chính khuyến khích sự hợp tác giữa những người tham gia thị trường, cơ quan quản lý và các bên liên quan khác. Điều này bao gồm chia sẻ thông tin, nỗ lực phối hợp để giải quyết các rủi ro và thách thức mới nổi. Hợp tác nâng cao hiệu quả thị trường, thúc đẩy đổi mới và tăng cường khả năng phục hồi tổng thể của hệ thống tài chính. Trung tâm tài chính chú trọng các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả. Điều này liên quan đến việc giám sát và quản lý các loại rủi ro khác nhau, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động. Khung quản lý rủi ro mạnh mẽ giúp giảm thiểu rủi ro hệ thống và đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính.

Các trung tâm tài chính đón nhận sự đổi mới và tận dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả, khả năng tiếp cận và bảo mật. Họ khuyến khích phát triển và áp dụng công nghệ tài chính (fintech) để cải thiện các dịch vụ tài chính, hợp lý hóa quy trình và mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính.

Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác và cộng tác quốc tế, trung tâm tài chính thường tham gia đối thoại với các trung tâm tài chính, cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế khác để giải quyết các thách thức tài chính toàn cầu, hài hòa hóa các quy định và thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới.

5 YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH TRUNG TÂM 

Có 5  yếu tố quyết định sự hình thành của một trung tâm tài chính, gồm: môi trường kinh doanh, tính kết nối, con người, cơ sở hạ tầng tài chính và luật pháp. Hiện nay, Việt Nam đang dần hoàn thiện những yếu tố này.

Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ kể từ thời kỳ đổi mới ở thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Theo Tổng cục Thống kê, quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2022 đạt 9,513 triệu tỷ đồng (tương đương 409 tỷ USD), tăng hơn 10 lần so với năm 2000. GDP bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95 ,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021. Năm 2023 và 2024, IMF dự báo GDP của Việt Nam sẽ đứng thứ 4 trong ASEAN-6, đạt lần lượt 462,64 tỷ USD và 615,6 tỷ USD.

Ngoài ra, nền kinh tế số Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á với tổng giá trị hàng hóa tăng khoảng 28%, từ 18 tỷ USD năm 2021 lên 23 tỷ USD năm 2022. Tốc độ tăng trưởng 31% trong giai đoạn 2022-2025. Việt Nam nằm trong số những thị trường dẫn đầu về tỷ lệ áp dụng các công nghệ tương lai, như: công nghệ tài chính (fintech) và metaverse (tiền điện tử, thực tế tăng cường, thực tế ảo, thế giới ảo và NFT - một nội dung số được xây dựng trên hệ thống chuỗi khối), bên cạnh Indonesia và Philippines. 58% người tiêu dùng kỹ thuật số tại Việt Nam đã sử dụng các giải pháp Fintech (ngân hàng trực tuyến, ví điện tử, ứng dụng chuyển tiền...) trong năm qua.

Trong khoảng hai thập kỷ qua, thị trường tài chính Việt Nam đã có những sự chuyển mình tích cực. Đầu tiên phải kể đến hệ thống ngân hàng của Việt Nam ngày càng trở nên năng động và bắt kịp xu thế quản trị trên thế giới.

Trên thị trường chứng khoán, những rào cản gia nhập thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được gỡ bỏ và thông thoáng hơn rất nhiều. Điển hình là giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tối đa là 49% (trừ một số lĩnh vực).

Đặc biệt, TP.Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để trở thành trung tâm tài chính quốc tế. Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cho biết thành phố chỉ chiếm khoảng 10% dân số và 0,63% diện tích cả nước nhưng luôn là địa phương đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách nhà nước.

Việt Nam nằm ở múi giờ khác với 21 trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. Đây là lợi thế đặc biệt trong việc thu hút vốn nhàn rỗi trong thời gian nghỉ giao dịch từ các trung tâm này. TP. Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở múi giờ khác mà còn chỉ cách các nền kinh tế năng động của châu Á như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines khoảng 3 giờ bay.

Xây dựng TP.Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế là nhiệm vụ khó khăn nhưng chắc chắn khả thi. Kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính quốc tế đi trước cho thấy Việt Nam có thể mất tới 10 năm để hoàn thành mục tiêu này.

Để có một trung tâm tài chính quốc tế, Việt Nam cần cải thiện nhiều vấn đề: (1) xây dựng hệ thống thông tin thị trường minh bạch và chuyên sâu; (2) cải thiện cơ cấu và quy định quản lý rủi ro để tăng tính cạnh tranh, bao gồm quản lý rủi ro hoạt động (ORM), quản lý rủi ro thị trường (MRM), đặc biệt là quản lý rủi ro tín dụng (CRM); (3) tạo điều kiện để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hoạt động sôi nổi, thúc đẩy tính minh bạch trên thị trường tài chính, đặc biệt đối với trái phiếu doanh nghiệp; (4) đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường tài chính, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm; (5) có hành lang pháp lý thúc đẩy thị trường fintech (công nghệ tài chính) phát triển; (6) xây dựng các quy định rõ ràng cho tiền kỹ thuật số quốc gia (CBDC), tiền điện tử và công nghệ blockchain; (7) có các biện pháp kiểm soát vốn phù hợp với yêu cầu của một trung tâm tài chính; (8) đầu tư cho đào tạo đội ngũ chuyên gia tài chính lành nghề.

GS.TS. Andreas Stoffers

Sao chép liên kết để chia sẻ bài viết lên Facebook, Zalo,...
Tin xem nhiều
Cùng chuyên mục
Cỡ chữ
NhỏLớn