Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế suất thuế xuất khẩu đối với phân kali sulphat (SOP) từ 5% xuống 0%, trong khi giữ nguyên mức thuế hiện hành với urea và supe lân, nhằm hài hòa mục tiêu phát triển ngành, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu gần 1,73 triệu tấn phân bón các loại, đạt kim ngạch trên 709,9 triệu USD.
Trong quá trình xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung mức thuế suất thuế xuất khẩu của một số mặt hàng tại Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, Bộ Tài chính đã xem xét kiến nghị của Hiệp hội Phân bón Việt Nam liên quan đến việc điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số loại phân bón. Theo đó, ba loại phân bón gồm urea, supe lân và kali sulphat (SOP) được đề xuất giảm thuế suất thuế xuất khẩu từ 5% xuống 0% nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm phân bón Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Về tình hình sản xuất và tiêu thụ, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện nay các nhà máy trong nước đã sản xuất được hầu hết các loại phân bón chủ lực như urea, phân lân, phân NPK và cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước. Riêng phân kali, bao gồm SOP, Việt Nam vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu gần 1,73 triệu tấn phân bón các loại, đạt kim ngạch trên 709,9 triệu USD, với giá xuất khẩu bình quân 411,1 USD/tấn. So với năm 2023, khối lượng xuất khẩu tăng 11,7%, kim ngạch tăng 9,4% nhưng giá giảm nhẹ khoảng 2%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Campuchia, chiếm trên 34% tổng khối lượng và gần 34% tổng kim ngạch xuất khẩu phân bón của cả nước.
Đối với phân urea, đây là loại phân đạm có hàm lượng nitơ cao, sử dụng phổ biến trên nhiều loại đất và được sản xuất từ khí tự nhiên (một loại tài nguyên không tái tạo). Hiện cả nước có 4 nhà máy sản xuất urea với tổng công suất thiết kế 2,73 triệu tấn/năm. Giai đoạn 2022–2024, sản lượng urea trong nước đạt trung bình khoảng 2,5 triệu tấn/năm; nhập khẩu khoảng 260 nghìn tấn/năm; xuất khẩu khoảng 700 nghìn tấn/năm; tiêu thụ nội địa khoảng 2,165 triệu tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt khoảng 278 triệu USD và 11 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 311 triệu USD.
Phân supe lân là loại phân lân được sản xuất từ quặng phosphat tự nhiên thông qua xử lý hóa học. Cả nước hiện có 7 nhà máy sản xuất phân lân với tổng công suất khoảng 2 triệu tấn/năm, trong đó supe lân chiếm 1,25 triệu tấn/năm. Trung bình giai đoạn 2022–2024, sản lượng phân lân đạt khoảng 1,1 triệu tấn/năm; nhập khẩu khoảng 20 nghìn tấn/năm; xuất khẩu khoảng 160 nghìn tấn/năm; tiêu thụ nội địa khoảng 960 nghìn tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt khoảng 13,2 triệu USD và 11 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 18 triệu USD.
Trong khi đó, phân kali sulphat (SOP) là loại phân bón chứa kali, thường được sử dụng tại các vùng đất nhiễm mặn và khu vực có nguồn nước tưới chứa hàm lượng clorua cao. Tại Việt Nam, SOP được sản xuất từ nguyên liệu kali clorua nhập khẩu, không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước. Hiện chỉ có một nhà máy sản xuất SOP với công suất khoảng 20 nghìn tấn/năm. Giai đoạn 2022–2024, sản lượng sản xuất đạt khoảng 20 nghìn tấn/năm; xuất khẩu khoảng 10 nghìn tấn/năm; nhập khẩu khoảng 13 nghìn tấn/năm; tiêu thụ nội địa khoảng 23 nghìn tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt khoảng 10,8 triệu USD và 11 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 8 triệu USD.
Về chính sách thuế hiện hành, cả ba mặt hàng urea, supe lân và kali sulphat đều thuộc khung thuế suất thuế xuất khẩu từ 0% đến 40% theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Mức thuế suất cụ thể đang áp dụng theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP là 5%.
Sau khi xin ý kiến Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, Bộ Tài chính cho biết đối với phân urea và supe lân, việc giữ nguyên mức thuế suất 5% là phù hợp với Chiến lược phát triển ngành hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo Quyết định số 726/QĐ-TTg. Hai mặt hàng này được sản xuất từ tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, trong khi năng lực sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu và kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ổn định qua các năm. Bên cạnh đó, việc duy trì mức thuế hiện hành cũng phù hợp với định hướng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và thúc đẩy chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, bền vững theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với mặt hàng phân kali sulphat (SOP), Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng đây là sản phẩm không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước, quy mô sản xuất nhỏ, không gây tác động đáng kể đến thị trường nội địa và phù hợp với định hướng phát triển các dự án sản xuất phân kali thay thế dần phân đạm sử dụng khí tự nhiên. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế suất thuế xuất khẩu đối với phân kali sulphat mã HS 3104.30.00 từ 5% xuống 0%, trong khi vẫn giữ nguyên mức thuế 5% đối với các mặt hàng kali khác.
Theo Bộ Tài chính, phương án điều chỉnh này phù hợp với nguyên tắc xây dựng Biểu thuế xuất khẩu theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đồng thời hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Nếu thực hiện, dự kiến số thu ngân sách nhà nước sẽ giảm khoảng 540 nghìn USD mỗi năm, tương đương khoảng 14,2 tỷ đồng, tính theo kim ngạch xuất khẩu năm 2024.
Thùy Linh
