Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Thị trường đóng cửa
Điều bình thường của thế giới nhưng lại là điều phi thường tại Việt Nam
Chuyên mục:

Kinh tế

Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp | 09:54
Google news

Đó chính là việc coi khu vực tư nhân là một động lực tăng trưởng mạnh nhất - PGS.TS Trần Đình Thiên nói.

Sáng 13/1, Lễ vinh danh FChoice 2025 và Hội thảo “Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số và Cơ hội đầu tư năm 2026” đã chính thức diễn ra tại khách sạn Sheraton (Hà Nội).

Sự kiện tôn vinh những doanh nghiệp, doanh nhân và dấu ấn nổi bật của kinh tế Việt Nam năm 2025, đồng thời mở ra không gian đối thoại chuyên sâu về con đường hướng tới mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2026–2030.

Hội thảo phiên 1 với các diễn giả PGS.TS Trần Đình Thiên, ông Đặng Thành Tâm - Chủ tịch HĐQT Kinh Bắc (KBC), ông Phạm Hồng Hải - CEO Ngân hàng OCB, ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó TGĐ Khối đầu tư AgriS (SBT) đã cùng thảo luận về chủ đề "Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số".

Toàn cảnh Hội thảo phiên 1

Host: Thưa PGS. TS Trần Đình Thiên, Trong năm 2025, kinh tế Việt Nam đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về bộ máy, cơ chế, chính sách. Nhiều quyết sách được thực thi chỉ trong thời gian rất ngắn như sáp nhập, sắp xếp bộ máy, các dự án từng đình trệ nhiều năm cũng đã được giải phóng... Đó có thể nói là những thay đổi phi thường, nhưng đang dần trở thành những điều "bình thường mới". Theo ông, những yếu tố "bình thường mới" nào có thể tạo ra bước ngoặt cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 và bắt đầu với tăng trưởng 2 con số của năm 2026?

PGS.TS Trần Đình Thiên: "Đất nước chúng ta đã biến điều bình thường của thế giới thành điều phi thường. Đó chính là việc coi khu vực tư nhân là một động lực tăng trưởng mạnh nhất. Đến năm 2025, chúng ta đã đặt khu vực tư nhân vào đúng vai trò bình thường của nó, là nền tảng, cốt lõi và động lực.

Việc này đã tạo nên sự phi thường và quan trọng nhất, nó tạo ra niềm tin của mọi người về tương lai.

Điểm thứ hai là một sự khác biệt đáng kể. Từ trước đến nay, các nghị quyết của Đảng thường rất hay và đúng đắn về mặt nội dung, nhưng hiệu quả và hiệu lực trong thực thi lại chưa cao. Chúng ta đã có các nghị quyết về tư nhân, công nghệ, hội nhập, nhưng tác động chưa thực sự rõ rệt.

Lần này, sự khác biệt nằm ở cách tiếp cận. Thay vì từng nghị quyết riêng biệt, độc lập, đơn độc và không đồng bộ mục tiêu, chúng ta đang sử dụng một cách tiếp cận theo bộ, theo khối – như "bộ tứ," "bộ bát".

Đây là một cách tiếp cận tổng thể, hệ thống, không chỉ giải quyết từng điểm riêng lẻ mà thay đổi toàn bộ cục diện. Tôi tin rằng, tiền đề nhất quán này, bắt nguồn từ tư duy và cách tháo gỡ các nghị quyết, sẽ đảm bảo thành công và giúp các chính sách đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng.

PGS.TS Trần Đình Thiên

Điểm thứ ba là về mô hình tăng trưởng, đang bắt đầu có động lực mạnh mẽ dựa trên những thay đổi vừa qua. Nếu chúng ta thực thi tốt, điều này sẽ trở nên tuyệt vời cho Việt Nam.

Cụ thể, có ba yếu tố chính:

Thứ nhất, khu vực tư nhân lần đầu tiên được nhìn nhận một cách khác biệt, đúng với vai trò của nó.

Thứ hai, khoa học công nghệ thực sự trở thành mục tiêu và công cụ. Trước đây, công nghệ thường chỉ được tôn thờ hoặc coi trọng một cách chung chung. Nhưng lần này, cách tiếp cận trong các nghị quyết đã xác định công nghệ là lực lượng sản xuất nền tảng, và việc triển khai đang bắt đầu được đẩy mạnh, không chỉ là mục tiêu mà còn là công cụ để đạt được mục tiêu.

Thứ ba, là cách triển khai về hạ tầng nền tảng. Mặc dù chúng ta chưa thể hoàn toàn hài lòng với hạ tầng hiện tại, nhưng đã có một sự tiếp cận hệ thống trong phát triển hạ tầng, có sự ưu tiên và liên kết chặt chẽ. Đây là một yếu tố quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới.

Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta vẫn còn lo ngại nhất là liệu chúng ta có đủ năng lực thực thi để chuyển hóa những ý tưởng này thành hiện thực hay không. Với tinh thần của các Nghị quyết đã được đưa ra, tôi tin rằng nếu thành công, điều này sẽ đảm bảo đất nước phát triển không chỉ về số lượng mà còn về hiệu quả, về cách sử dụng nguồn lực một cách tối ưu. Tôi rất mong và tin tưởng điều đó sẽ thành hiện thực".

PGS.TS Trần Đình Thiên chia sẻ quan điểm

Host: Ở trong lĩnh vực ngân hàng, ông Hải thấy những điều “bình thường mới” nào tương tự và điều đó có thể góp phần ra sao cho mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số?

Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng OCB: "Trong lĩnh vực ngân hàng, chúng ta cũng thấy rõ tư duy Quyết định nhanh – triển khai nhanh – chịu trách nhiệm rõ ràng. Đơn cử như trước đây, trong ngân hàng: Một sản phẩm mới có thể mất 12–18 tháng để phê duyệt và triển khai; Một thay đổi quy trình phải qua nhiều lớp.

Tuy nhiên, hiện nay, điều đang trở nên “bình thường” đó là: Phân quyền mạnh cho Ban điều hành và các hội đồng chuyên trách; Thí điểm nhanh (pilot), đo lường sớm, điều chỉnh linh hoạt. Phương pháp làm việc Agile và các Squad team ngày càng phổ biến trong tổ chức. Khi cả đội ngũ được phân quyền để thực thi triển khai nhanh “hướng về cùng một mục tiêu” và chấp nhận “thử và sai” để tạo ra kết quả nhanh với tính linh hoạt.

Điều thứ hai là cho vay dựa trên dòng tiền. Trước đây, điều đầu tiên các ngân hàng Việt Nam hỏi doanh nghiệp là tài sản đảm bảo ở đâu? Giờ đây, với hình thức cho vay dựa trên dòng tiền, chúng tôi đã giúp hàng loạt start up Việt Nam tiếp cận nguồn vốn.

Cuối cùng là tín dụng xanh. Chúng tôi cho rằng, đây không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là cơ hội kinh doanh cho ngành ngân hàng. Thực tế, tín dụng xanh đã tạo cơ hội rất lớn cho ngân hàng, giúp ngân hàng tăng trưởng ổn định, an toàn và ít biến động hơn. Tôi cho rằng đây là điều bình thường mới trong hệ thống ngân hàng".

Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng OCB

Host: Với doanh nghiệp nội địa, lại tham gia vào thị trường toàn cầu như AgriS, ông nhìn nhận những yếu tố nào đang tác động lớn nhất đến hoạt động và khả năng cạnh tranh?

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó Tổng giám đốc, Khối Đầu tư AgriS: Thay đổi lớn nhất từ thị trường quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến hàng hóa Việt Nam chính là các tiêu chuẩn xanh (ESG) và yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Đây được coi là hai yếu tố then chốt, không chỉ riêng với ngành nông nghiệp mà cho tất cả các ngành nghề muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

Dù xu hướng ESG tại một số thị trường, đặc biệt là Mỹ, có dấu hiệu chững lại do thay đổi chính sách, song trên bình diện toàn cầu, nhất là tại châu Âu và nhiều khu vực khác, các quốc gia vẫn cam kết rất mạnh mẽ với bộ tiêu chuẩn ESG. Đây là xu hướng dài hạn, không thể đảo chiều trong ngắn hạn.

Để đáp ứng ESG, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều yêu cầu khắt khe và một lộ trình chuyển đổi dài hơi. Trước hết là nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn, không chỉ cho công nghệ, hệ thống mà còn cho tư vấn, đào tạo, cùng với cam kết mạnh mẽ từ ban lãnh đạo lan tỏa xuống toàn bộ đội ngũ nhân sự.

Trên thực tế, cần ít nhất 3–5 năm để doanh nghiệp có thể tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn ở mức cơ bản, bởi không thể chuyển đổi toàn bộ quy trình sản xuất ngay lập tức.

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó Tổng giám đốc, Khối Đầu tư AgriS

Một yêu cầu bắt buộc khác là ứng dụng sâu công nghệ số vào toàn bộ chuỗi sản xuất. Các nhà nhập khẩu, đặc biệt tại châu Âu, có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ gốc của sản phẩm trong thời gian rất ngắn, thậm chí chỉ trong vòng 4 tiếng.

Nếu không thể cung cấp dữ liệu ngay lập tức, điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp chưa vận hành hiệu quả hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống. Do vậy, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc số hóa toàn diện, chi tiết hóa và tập trung hóa dữ liệu sản xuất.

Quá trình số hóa này đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra những quyết định mang tính chiến lược, chẳng hạn lựa chọn nền tảng phần mềm quản trị phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã phải đưa ra quyết định khó khăn khi chuyển đổi từ các phần mềm cũ sang các hệ thống hiện đại hơn như SAP để đạt hiệu quả cao hơn.

Song song với ESG, truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc, nhất là trong bối cảnh Việt Nam liên tục đối mặt với các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Đối với các thị trường khó tính, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở an toàn thực phẩm mà còn mở rộng sang các tiêu chí xã hội và môi trường như: có sử dụng đất phá rừng hay không, có sử dụng lao động địa phương và đảm bảo quyền lợi cho họ hay không.

Bản thân việc truy xuất nguồn gốc cũng gắn liền với năng lực cung cấp dữ liệu nhanh chóng. Hiện nay là yêu cầu trong vòng 4 tiếng, nhưng trong tương lai, mức độ cạnh tranh có thể đẩy thời gian này xuống còn 1 tiếng, hoặc thậm chí doanh nghiệp phải cung cấp trực tiếp cho khách hàng một nền tảng dữ liệu để họ tự truy cập, khai thác thông tin mà không cần thông qua trung gian.

Ở góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh lẫn nhau trong nước mà còn phải đối đầu trực tiếp với các đối thủ lớn trên toàn cầu, đặc biệt từ Thái Lan, Brazil hay các quốc gia có chuỗi cung ứng phát triển.

Trong cuộc cạnh tranh đó, ESG và truy xuất nguồn gốc chính là những yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho hàng hóa Việt Nam, bên cạnh các bài toán truyền thống vẫn luôn hiện hữu là chất lượng và giá cả.

Host: Quay lại với chiến lược ngân hàng, thưa ông Phạm Hồng Hải, một trong những động lực cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai là tăng trưởng xanh và OCB cũng là một trong những ngân hàng lựa chọn chiến lược tăng trưởng xanh. Theo ông, chiến lược tăng tưởng xanh có mâu thuẫn với mục tiêu tăng trưởng nhanh mà ngân hàng đặt ra hay không? Làm cách nào để vừa tăng trưởng nhanh mà vẫn xanh?

Ông Phạm Hồng Hải: Chúng tôi định vị là một trong những ngân hàng xanh hàng đầu của Việt Nam. Trên thực tế, đây là chiến lược không dễ thực hiện, mà tôi quan điểm cái gì dễ thì không tốt về dài hạn. Hầu hết mọi người lo về cơm áo gạo tiền, trước khi nghĩ đến “xanh”. Tuy nhiên, “xanh” lại là yếu tố mang đến cơ hội cho doanh nghiệp, ngân hàng và cả nền kinh tế.

Khi chúng tôi áp dụng tín dụng xanh, chúng tôi đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn, có những cơ hội chấp nhận bỏ lỡ bởi nó không đáp ứng những tiêu chuẩn của ngân hàng. Tuy nhiên, nhìn về dài hạn, tôi cho rằng tín dụng xanh tạo ra rất nhiều cơ hội, góp phần vào tốc độ phát triển của ngân hàng.

Theo một số dự báo, từ giờ cho đến năm 2030, trung bình Việt Nam cần khoảng 150.000 USD để đầu tư cho năng lượng tái tạo, bao gồm năng lượng mặt trời và các năng lượng tái tạo khác. Bên cạnh đó là xu hướng chuyển dịch hoạt động xanh, nhiều doanh nghiệp dù chưa đáp ứng tiêu chuẩn xanh nhưng có nhu cầu chuyển dịch xanh, thì họ cũng cần đầu tư vào khoản này.

Ở góc độ ngân hàng, khi chúng tôi cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xanh vay, điều dễ nhận thấy là tỷ lệ nợ xấu rất thấp, cho thấy hiệu quả rất lớn khi ngân hàng áp dụng chiến lược xanh. Bên cạnh đó, chi phí vận hành của chúng tôi cũng giảm đáng kể. Bởi lẽ, để làm giảm tác động tới môi trường, thì ta cần số hoá quy trình.

Tôi cho rằng, chiến lược xanh không chỉ là trách nhiệm xã hội của bản thân ngân hàng, mà nó còn tạo ra rất nhiều cơ hội kinh doanh cho hệ thống ngân hàng, một động lực tăng trưởng mới.

Ở những năm 2000, chúng ta nói rất nhiều về mobile, về điện thoại di động, thì giờ đây, xu hướng mới là ESG, là AI. Đây chính là xu hướng mà doanh nghiệp nào tận dụng được thì có thể tạo nên sự phi thường.

Link gốc

THUẬT NGỮ TRONG BÀI
term AI
Các thuật ngữ được trích xuất trong tin bài và giải thích ngắn ngọn bằng AI. Nếu muốn xem thêm về Thuật ngữ, vui lòng xemtại đây.
Sao chép liên kết để chia sẻ bài viết lên Facebook, Zalo,...
SSV
Cùng chuyên mục