Sau gần 40 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), rất nhiều “đại bàng” đã đến “làm tổ’ tại Việt Nam. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) vẫn rất mờ nhạt khi mới có vài doanh nghiệp (DN) “đem chuông đi đánh xứ người”.
Xung quanh câu chuyện FDI và OFDI, Tạp chí Nhà đầu tư có cuộc phỏng vấn TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA/VFCA), nguyên Cục Trưởng Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính).
Thưa ông, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được ban hành năm 1987, đến nay chúng ta đã có gần 40 năm thu hút FDI. Nếu nói về thành tựu nổi bật nhất của thu hút FDI ông sẽ nói điều gì?
TS. Phan Hữu Thắng: Trong gần 40 năm thu hút FDI, thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam là sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là sự vươn lên của khu vực FDI trong hoạt động xuất khẩu. Khu vực FDI đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, đóng góp lớn vào GDP và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030 cũng đã đánh giá: Hoạt động ĐTNN ngày càng sôi động, nhiều tập đoàn đa quốc gia, DN lớn với công nghệ hiện đại đầu tư vào nước ta; quy mô vốn và chất lượng dự án tăng, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người lao động; nâng cao trình độ, năng lực sản xuất; tăng thu ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, một khía cạnh mà tôi muốn nhấn mạnh là vị thế, uy tín của Việt Nam trong con mắt của các nhà ĐTNN ngày càng được nâng cao. Nhiều tập đoàn xuyên quốc gia đã đầu tư vào Việt Nam từ rất sớm như: Intel, Samsung. LG, Honda, Toyota…
Trong bối cảnh khó khăn chung, như đại dịch COVID-19 trước đây hay chính sách thuế đối ứng của Chính phủ Mỹ hiện nay, thu hút FDI của Việt Nam vẫn là “điểm sáng”.
Thưa ông, ở chiều ngược lại, OFDI của chúng ta lại quá khiêm tốn?
TS. Phan Hữu Thắng: Đúng là đang có sự chênh lệch lớn giữa FDI và OFDI. Trong năm 2024, tổng vốn OFDI (gồm dự án mới và điều chỉnh vốn) của các DN Việt Nam đạt gần 664.8 triệu USD, tăng 57,7% so với năm trước, với 164 dự án OFDI. Lũy kế đến cuối 2024, cả nước có khoảng 1.825 dự án OFDI với tổng vốn đăng ký hơn 22,59 tỷ USD.

Khách sạn Melia Yangon do Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đầu tư tại Myanmar. Ảnh: MY
Trong khi đó, số liệu tổng kết 35 năm thu hút FDI cho biết, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỷ USD vốn FDI. Ước tính đến thời điểm hiện nay, con số này khoảng 500 tỷ USD.
Thực chất FDI hay OFDI đều là vốn ĐTNN. OFDI cũng là nguồn vốn FDI nhưng được các quốc gia sử dụng để chỉ rõ đây là nguồn vốn đầu tư trực tiếp của quốc gia mình sang các quốc gia, vùng lãnh thổ khác. Còn FDI là nguồn vốn đầu tư trực tiếp của một quốc gia này (thường là các nước phát triển) sang các quốc gia khác (thường là các quốc gia đang phát triển - như Việt Nam).
Với số liệu FDI và OFDI như trên, rõ ràng đang có sự khập khiễng, bước thấp bước cao trong ĐTNN của chúng ta. Đã đến lúc chúng ta cần phải “đi cả hai chân”, cả FDI và OFDI.
Thưa ông, mục tiêu thu hút FDI đã rõ. Nhưng với OFDI, thường là đầu tư sang các nước có trình độ phát triến thấp hơn chúng ta hoặc tương đương, vậy lợi ích mà chúng ta thu được là gì?
TS. Phan Hữu Thắng: Viettel bắt đầu OFDI từ năm 2006 chỉ 2 năm sau khi kinh doanh dịch vụ di động trong nước. Sự quyết tâm và nỗ lực đã đưa Viettel trở thành nhà đầu tư viễn thông lớn tại nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, OFDI của Việt Nam vẫn rất khiêm tốn. Trong giai đoạn 2016-2020, tổng OFDI hàng năm đã tăng dần, đến 2020 con số tích lũy khoảng 20 tỷ USD. Giai đoạn này, nhiều dự án khai khoáng, nông-lâm nghiệp ở Lào, Campuchia. Nhiều DNVVN thử nghiệm OFDI với mục tiêu đầu tư hướng vào tài nguyên và thị trường nước đến đầu tư.
Đến giai đoạn 2021-2024, mặc dù định hướng chuyển dịch và tăng trưởng có chọn lọc nhưng xu hướng đầu tư vẫn chủ yếu vào khai khoáng, nông - lâm nghiệp và thông tin truyền thông. Có một số dự án thực hiện M&A (mua bán - sáp nhập), đầu tư vào dịch vụ công nghệ. Ban đầu đầu tư vẫn nghiêng về các nước ASEAN, nhưng bắt đầu có các dự án ở Bắc Mỹ/Châu Âu (số dự án ít nhưng chất lượng dự án cao hơn). Năm 2024, OFDI tăng mạnh, đạt 57,7% so với năm 2023, số lượng dự án mới tăng, lợi nhuận từ các dự án cũng tăng.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), hiện có 64 dự án có lãi năm 2023 với lợi nhuận sau thuế 690,4 triệu USD. Như vậy, đến nay OFDI chúng ta đã có được kết quả ban đầu.
Tuy nhiên, số DN OFDI không nhiều. Có thể kể ra đây như: Viettel, FPT, Vinamilk, TH Truemilk, Hoàng Anh Gia Lai…
Lợi ích mà OFDI mang lại ngoài lợi nhuận, chúng ta còn mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến động như hiện nay, học hỏi và mở rộng cơ hội hợp tác bởi mỗi nước đều có thế mạnh, nét đặc sắc riêng mà khi “cắm sâu, bén rễ” chúng ta mới nhận thấy.

Người dân Châu Phi phấn khởi khi sóng điện thoại của Viettel phủ sóng. Ảnh: Viettel
Và một điều quan trọng nữa, OFDI chính là góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên thế giới. Tôi đã đến Myanmar, ở đó có Khách sạn Melia Yangon là một khách sạn 5 sao do Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đầu tư, thuộc khu phức hợp Hoàng Anh Gia Lai Myanmar Center ở Yangon. Đây được xem là biểu tượng Việt Nam ở quốc gia này.
Hay ở các nước Châu Phi, người dân rất phấn khởi khi mạng điện thoại Viettel phủ sóng, nó như là cầu nối văn hóa giữa Việt Nam với các quốc gia này… Đó là những lợi ích không chỉ đo bằng kinh tế.
Theo ông, đâu là những khó khăn trở ngại khi DN OFDI?
TS. Phan Hữu Thắng: Trước hết về phía DN, phần lớn DN Việt Nam là nhỏ và vừa, vốn và chuyên môn còn hạn chế, trong khi OFDI đỏi hỏi vốn lớn, công nghệ cao. Về phía nhà nước, khung chính sách và hỗ trợ chưa hoàn chỉnh.
Mặc dù có chính sách khuyến khích OFDI, nhưng thiếu quỹ hỗ trợ, bảo hiểm rủi ro chính trị, cơ chế thúc đẩy M&A, và hỗ trợ tiếp cận thị trường pháp lý.
Ngoài ra, OFDI phải đổi mặt với rủi ro và chi phí thông tin (chi phí tìm hiểu thị trường, thủ tục, và rủi ro chính trị/khí hậu ở nước nhận đầu tư) khiến nhiều DN Việt Nam mà phần lớn là các DN nhỏ e dè. Cùng với đó, năng lực nguồn nhân lực công nghệ cao và R&D (nghiên cứu - phát triển) yếu, hạn chế OFDI theo chiều nâng cao chuỗi giá trị.
Xin cảm ơn Ông!
