Theo các chuyên gia, ngành bảo hiểm dễ tạo sóng tăng trong ngắn hạn, nhưng cũng đòi hỏi nhà đầu tư phải có độ kiên nhẫn và khả năng chọn lọc doanh nghiệp.
.png)
Nhà đầu tư phải có độ kiên nhẫn và khả năng chọn lọc doanh nghiệp ngành bảo hiểm. Ảnh minh hoạ: NĐT.
Ngành bảo hiểm thu hơn 9 tỷ USD năm 2025
Dữ liệu từ Cục Thống kê cho thấy, năm 2025, tổng doanh thu phí bảo hiểm tại Việt Nam ước khoảng 237.200 tỷ đồng (tương đương 9,1 tỷ USD), tăng 4% so với năm trước. Trong đó, bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 148.800 tỷ đồng, tăng 0,5%; bảo hiểm phi nhân thọ đạt khoảng 88.400 tỷ đồng, tăng 10,3%.
Trong khi đó, tổng tài sản của thị trường bảo hiểm được ước tính ở mức hơn 1,1 triệu tỷ đồng (tương đương 47 tỷ USD), tăng 8,6% so với cùng kỳ, cho thấy quy mô thị trường tăng trưởng ổn định dù nền kinh tế có biến động.
Đặc biệt, các khoản đầu tư trở lại vào nền kinh tế của ngành đạt gần 959.000 tỷ đồng, tăng 10,3% so với năm trước. Dữ liệu này phản ánh vai trò ngày càng lớn của bảo hiểm trong chuỗi vốn trung – dài hạn của nền kinh tế.
Ngoài ra, các doanh nghiệp ngành bảo hiểm cũng hưởng lợi từ việc thay đổi nhân khẩu học ở Việt Nam khi tuổi đời bình quân cao, thu nhập tăng, tỷ lệ mắc bệnh hiểm nghèo cũng tăng theo. Vì thế, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng được chú ý, trong khi tỷ lệ xâm nhập chưa cao.
Dự phóng về thị trường bảo hiểm, CTCP Chứng khoán FPT (FPTS) nhận định, doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ sẽ tăng trưởng trung bình 11,3%/năm, CAGR đạt 9,1%/năm trong giai đoạn 2025 – 2029 nhờ GDP duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tỷ lệ thâm nhập thấp (khoảng 0,7%), tạo dư địa phát triển trong dài hạn.
Số liệu thị trường tính tới cuối năm 2024 cho thấy, nhóm 10 công ty bảo hiểm nòng cốt như PVI, Bảo Việt, PTI, Bảo Minh, MIC chiếm tới 78 % thị phần phi nhân thọ – một tỷ lệ tập trung tương đối cao, giúp thương hiệu lớn hơn có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ.
Ông Thái Quang Trung, CFA, Giám đốc Đầu tư VinaCapital cho rằng, ngành bảo hiểm có nhiều dư địa bứt phá nhờ các yếu tố trên, đặc biệt khi tăng trưởng toàn ngành trên 2 chữ số.
"Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong ngành bảo hiểm là 2 chữ số, không thua gì ngành ngân hàng nên tôi nghĩ đây là một trong những ngành sẽ hấp dẫn dòng vốn trong năm nay", ông Trung nhận định về cổ phiếu ngành bảo hiểm.
Triển vọng là có song cổ phiếu ngành bảo hiểm có thực sự bứt phá trong năm 2026 như kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư không thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Triển vọng và thách thức
Trả lời Nhadautu.vn về triển vọng cổ phiếu bảo hiểm, chuyên gia Trương Đắc Nguyên, Giám đốc Đầu tư, CTCP Blue Horizon đánh giá, ngành bảo hiểm trong năm 2026 có triển vọng tích cực, đặc biệt trong môi trường lãi suất cao.
Tuy nhiên, đây không phải là nhóm ngành có thể tăng trưởng đồng loạt, mà sẽ có sự phân hóa, cơ hội và rủi ro đan xen phức tạp. Do đó, nhà đầu tư cần chọn lọc kỹ lưỡng các doanh nghiệp có thị phần vững, cơ cấu tài chính lành mạnh và khả năng quản trị rủi ro tốt. Với đặc thù mang tính phòng thủ, cổ phiếu bảo hiểm sẽ phù hợp hơn với chiến lược đầu tư trung dài hạn thay vì giao dịch lướt sóng.
Việc cổ phiếu bảo hiểm được hưởng lợi từ mặt bằng lãi suất cao hơn trong năm 2026 là đúng về lý thuyết, nhưng không phải cổ phiếu nào cũng sẽ có tăng trưởng tốt.
Đầu tiên, mô hình kinh doanh đặc thù khiến các doanh nghiệp bảo hiểm rất nhạy cảm với biến động lãi suất. Khi mặt bằng lãi suất huy động tăng, dòng tiền đầu tư của các công ty bảo hiểm - vốn tập trung chủ yếu vào tiền gửi và trái phiếu - có cơ hội cải thiện lợi suất rất lớn. Tính đến 9 tháng đầu năm 2025, tỷ trọng tiền gửi ngân hàng trong danh mục đầu tư của khối bảo hiểm phi nhân thọ duy trì ở mức rất cao, khoảng 73%.
Thực tế, từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng khoảng 100-150 điểm cơ bản so với vùng đáy, tạo ra một mặt bằng lãi suất mới cao hơn. Đây là yếu tố thuận lợi giúp thu nhập đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cải thiện rõ rệt trong chu kỳ lãi suất tăng.
Điều này đặc biệt đúng với nhóm phi nhân thọ có danh mục đầu tư ngắn hạn, linh hoạt tái đầu tư với lãi suất cao hơn.
"Đối với khối nhân thọ, lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm là tham chiếu quan trọng cho lãi suất chiết khấu kỹ thuật. Với việc lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm có xu hướng tăng (từ mức 3% vào đầu 2025 và đã lên 4,2% vào đầu 2026 dự kiến đạt 4,5% vào cuối năm 2026), áp lực trích lập dự phòng toán học sẽ giảm đi đáng kể, hỗ trợ trực tiếp cho lợi nhuận kế toán", ông Nguyên nhận định.
Tuy nhiên, trong trường hợp danh mục đầu tư tập trung nhiều vào trái phiếu lãi suất cố định kỳ hạn dài, doanh nghiệp có thể chịu rủi ro giảm giá trị tài sản đầu tư trong ngắn hạn.
Bởi lẽ, khi lãi suất thị trường tăng, các trái phiếu (do tính cố định) nên mức lãi suất thấp hơn sẽ trở nên kém hấp dẫn, và giá trị trái phiếu trên thị trường sẽ giảm. Nếu doanh nghiệp nắm giữ nhiều loại trái phiếu này trong danh mục đầu tư, thì giá trị danh mục trong ngắn hạn có thể bị giảm, dù doanh nghiệp vẫn nhận đủ lãi theo hợp đồng nếu giữ đến ngày đáo hạn.
Ngoài ra, ông Nguyên cho biết Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi chính thức có hiệu lực (từ 1/1/2026), được kỳ vọng sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch và ít rào cản hơn cho các doanh nghiệp nội.
Đồng thời, thị trường bảo hiểm đang được tái cơ cấu theo hướng chất lượng hơn. Khối nhân thọ dần vượt qua khủng hoảng niềm tin sau các sự cố liên quan bancassurance. Khối phi nhân thọ thì đang được hưởng lợi từ chính sách đầu tư công, bảo hiểm bắt buộc, và ý thức bảo vệ tài sản tăng lên sau thiên tai. Vì vậy, 2026 có thể là năm bản lề để ngành bảo hiểm bước ra khỏi vùng trũng niềm tin và đi vào giai đoạn tăng trưởng lành mạnh.
Tuy nhiên, rủi ro vẫn tồn tại. Chi phí bồi thường ngày càng cao, đặc biệt ở các nghiệp vụ chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Có thể thấy PVI đang đặt kế hoạch thận trọng với doanh thu 2026 khoảng 28.800 tỷ đồng (tăng nhẹ so với 2025) do lo ngại chi phí bồi thường thiên tai gia tăng. Và sự phân hóa giữa doanh nghiệp nhân thọ và phi nhân thọ ngày càng rõ, đặc biệt về tốc độ tăng phí và khả năng sinh lời.
Đồng thời, đặc thù chung của ngành bảo hiểm là cơ cấu cổ đông "cô đặc". Điều này, giúp nhóm cổ phiếu bảo hiểm dễ tạo sóng tăng khi có thông tin hỗ trợ - bởi vốn hóa ngành tập trung và free-float thấp. Trung bình tỷ lệ tự do chuyển nhượng của nhóm bảo hiểm chỉ khoảng 16%, thấp hơn nhiều so với ngân hàng (48%) hay Ccứng khoán (60%)
"Song điều đó cũng đi kèm rủi ro thanh khoản, khiến nhóm này kém hấp dẫn với dòng tiền đầu cơ ngắn hạn hay các quỹ lớn. Biến động giá vì thế có thể mạnh nhưng thiếu ổn định. Chỉ cần một câu chuyện vĩ mô đúng thời điểm như việc lãi suất tăng, cổ phiếu bảo hiểm có thể bật mạnh. Nhưng khi dòng tiền ổn định về bình thường của nhóm bảo hiểm sẽ lại giao dịch với thanh khoản thấp", ông Nguyên nhìn nhận.
Một điều cần lưu ý là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội địa với khối ngoại. Điểm tích cực là áp lực cạnh tranh từ khối ngoại buộc doanh nghiệp nội phải chuyển mình - từ số hóa quy trình, nâng chuẩn dịch vụ, đến tìm kiếm đối tác chiến lược. Đây là cơ hội để phân hóa cổ phiếu. Tuy nhiên, thay vì lo ngại chung, nhà đầu tư nên đánh giá cụ thể từng mã cổ phiếu theo các tiêu chí như: vị trí thị phần, chất lượng kênh phân phối, hiệu quả quản trị kỹ thuật bảo hiểm và chiến lược tăng trưởng vốn.
Những doanh nghiệp nội đầu ngành, có hệ sinh thái mạnh và câu chuyện tái cấu trúc hoặc hợp tác chiến lược với đối tác ngoại sẽ là điểm sáng nổi bật trong giai đoạn tới.
Ở mảng phi nhân thọ, nhiều doanh nghiệp nội như PVI, Bảo Việt, BIC vẫn nắm giữ thị phần lớn nhờ hệ sinh thái riêng (ngân hàng mẹ, tập đoàn dầu khí, hàng không…). Đây là lợi thế mà khối ngoại khó thay thế trong trung hạn.
"Xu hướng M&A và nới room ngoại đang là động lực quan trọng thúc đẩy giá cổ phiếu. Các thương vụ bán vốn cho nhà đầu tư chiến lược không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính - công nghệ mà còn làm tăng định giá trên thị trường", ông Nguyên nhận định.
Liên Thượng
