Những thách thức không còn dừng ở kỹ thuật trại nuôi, mà đang lan rộng thành bài toán của hệ sinh thái, thị trường và thể chế.
LTS: Từ những ao nuôi truyền thống đến các trang trại công nghệ cao, ngành tôm đang trở thành một ngành sản xuất thực phẩm quan trọng trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tôm là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản. Tuy nhiên, trước áp lực môi trường, dịch bệnh và cạnh tranh thị trường, ngành tôm đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi để phát triển bền vững hơn trong giai đoạn mới.
Gia tăng “dấu chân môi trường”
Trong Văn bản số 39 mới đây của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Thư ký VASEP Nguyễn Hoài Nam cho biết, trong những năm qua, ngành tôm đã có những bước phát triển đáng kể về công nghệ nuôi.
Nhiều mô hình sản xuất mới được hình thành như nuôi tôm - rừng, nuôi tôm - lúa, nuôi tôm sinh thái và nuôi tôm công nghệ cao, nhằm nâng cao năng suất, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, đồng thời góp phần chuyển dịch từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, chính quá trình phát triển nhanh và ngày càng thâm canh hóa đó cũng đang bộc lộ những giới hạn mới, khi mô hình tăng trưởng dựa vào gia tăng cường độ sản xuất, tập trung không gian nuôi và hội nhập sâu vào thị trường toàn cầu bắt đầu xuất hiện các thách thức mang tính cấu trúc.
.png)
Mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn được xem là hướng đi bền vững, hứa hẹn mang lại lợi nhuận kinh tế song hành cùng việc bảo vệ môi trường. Ảnh: Thanh Cường.
Tại nhiều vùng nuôi tập trung, đặc biệt ở ĐBSCL và Nam Trung bộ, mật độ ao nuôi cao, tần suất thay nước lớn và lượng chất thải hữu cơ đáng kể đã làm gia tăng áp lực lên hệ thống kênh rạch nội đồng, vùng cửa sông ven biển và vùng ven biển. Bùn đáy ao, thức ăn dư thừa và chất thải từ quá trình nuôi nếu không được xử lý hiệu quả sẽ tích tụ, làm suy giảm chất lượng nước, phát sinh khí độc và tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh giữa các ao nuôi và vùng nuôi.
Trong khi các mô hình thâm canh và siêu thâm canh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ về diện tích nhưng đóng góp phần lớn sản lượng, cường độ sử dụng thức ăn công nghiệp, năng lượng và hóa chất ngày càng cao, làm gia tăng “dấu chân môi trường” của ngành. Tuy nhiên, hạ tầng xử lý nước thải và quản lý vùng nuôi ở nhiều nơi chưa theo kịp tốc độ thâm canh hóa. Sức tải môi trường tại một số vùng đã tiệm cận hoặc vượt ngưỡng, dẫn đến vòng lặp suy thoái môi trường - dịch bệnh - gia tăng đầu tư đầu vào.
Song song với thâm canh hóa, rủi ro dịch bệnh trở nên phức tạp hơn do suy thoái môi trường, mật độ nuôi cao, vận chuyển giống và vật tư giữa các vùng, cùng với biến động mạnh của môi trường nước.
Các bệnh do vi khuẩn, virus và hội chứng môi trường có xu hướng bùng phát nhanh và gây thiệt hại lớn. Những năm gần đây ghi nhận sự xuất hiện của các tác nhân như: TPD (Hội chứng mờ đục hậu ấu trùng), virus DIV1 và vi bào tử trùng EHP gây còi cọc.
Báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, công tác phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản trong năm 2025 đã ghi nhận tổng cộng 289 xã tại 18 tỉnh có dịch. Đáng chú ý là, tổng diện tích nuôi bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh là 7.080,6 ha, với tỷ lệ diện tích mắc bệnh chung là 1,56%.
Khi dịch bệnh trở thành rủi ro thường trực, chi phí phòng bệnh, xử lý môi trường và nguy cơ thất bại vụ nuôi tăng lên, làm giảm hiệu quả kinh tế và gia tăng bất ổn sinh kế, đặc biệt đối với hộ nuôi nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính bất định của điều kiện sản xuất. Nắng nóng kéo dài, mưa trái mùa, biến động độ mặn và nhiệt độ đột ngột làm thay đổi các chỉ tiêu môi trường ao nuôi, gây stress cho tôm và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh. Ở nhiều vùng ven biển, xâm nhập mặn sâu hơn vào nội đồng làm thay đổi cơ cấu sinh thái, trong khi các hiện tượng cực đoan như hạn hán, triều cường và bão mạnh hơn làm gia tăng rủi ro đối với hạ tầng nuôi.
Các hệ thống nuôi thâm canh, vốn phụ thuộc nhiều vào kiểm soát môi trường nhân tạo, có thể đạt năng suất cao nhưng lại nhạy cảm hơn với sự cố về điện, ôxy, nhiệt độ và nguồn nước. Vì vậy, biến đổi khí hậu không chỉ làm tăng rủi ro tại từng trại nuôi mà còn làm gia tăng rủi ro hệ thống của toàn ngành.
Không chỉ dừng lại ở những tác động trực tiếp lên môi trường nuôi, biến đổi khí hậu còn đang âm thầm tái định hình toàn bộ cấu trúc ngành, từ tổ chức sản xuất, vận hành thị trường đến khung khổ thể chế.
Biên lợi nhuận thu hẹp, cạnh tranh ngày càng cao
Nếu như áp lực môi trường và dịch bệnh đặt ra thách thức từ bên trong, thì cạnh tranh thị trường và cấu trúc sản xuất lại là sức ép đến từ bên ngoài - nhưng không kém phần quyết định.
Ngành tôm Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia - những nước có lợi thế về quy mô, chi phí sản xuất thấp và mức độ tập trung cao. Trong khi đó, sản xuất trong nước vẫn chủ yếu dựa vào các hộ nuôi nhỏ lẻ, chuỗi cung ứng nhiều khâu trung gian và chi phí đầu vào cao.
Cấu trúc sản xuất phân tán không chỉ làm gia tăng chi phí mà còn khiến việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc trở nên khó khăn hơn. Trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật và thương mại ngày càng gia tăng, việc phải đáp ứng đồng thời nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau từ các thị trường nhập khẩu đang trở thành gánh nặng không nhỏ đối với doanh nghiệp và người nuôi.
.png)
Ngành tôm Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia. Ảnh: Hồng Thắm.
Trong khi đó, giá cả thị trường biến động mạnh, chi phí thức ăn, con giống và năng lượng liên tục tăng đã khiến biên lợi nhuận của người nuôi ngày càng bị thu hẹp. Điều này làm gia tăng tính dễ tổn thương của toàn bộ khâu sản xuất - đặc biệt là các hộ nuôi quy mô nhỏ, vốn đã hạn chế về vốn, công nghệ và khả năng tiếp cận các chương trình chứng nhận bền vững.
Dù các hợp tác xã và tổ hợp tác đã được hình thành nhằm tăng cường liên kết, song mức độ gắn kết giữa các thành viên cũng như giữa các tổ chức vẫn còn lỏng lẻo. Điều này làm hạn chế hiệu quả phối hợp trong quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và tổ chức truy xuất nguồn gốc ở quy mô cộng đồng.
Ở chiều dọc, liên kết giữa doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu với người nuôi vẫn thiếu ổn định. Tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá biến động, cùng với sự thiếu hụt cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro, đang làm suy yếu nền tảng của chuỗi giá trị. Đây chính là một trong những “nút thắt” lớn cản trở quá trình xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.
Bên cạnh đó, công tác quy hoạch vùng nuôi, đầu tư hạ tầng dùng chung và quản lý môi trường ở nhiều địa phương vẫn chưa đồng bộ. Việc giám sát chất lượng đầu vào còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng vật tư kém chất lượng vẫn lưu hành trên thị trường.
Khoảng cách giữa yêu cầu quản lý theo chuỗi giá trị và thực tiễn sản xuất phân tán đang trở thành điểm nghẽn thể chế quan trọng - trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi của ngành tôm trong giai đoạn tới.
Hồng Thắm - Tiến Chương
