 “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp”
VnEconomy - 09/02/2010 11:50:00 SA
(Có 0 bình chọn. Bạn phải đăng nhập để bình chọn.)
Vào thời
điểm khép lại một năm đầy khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam, nguyên Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá nhìn lại những mảng sáng tối
và triển vọng của nền kinh tế trong năm 2010, với những đánh giá đa
chiều của một người đã từng nhiều năm tham gia hoạch định chính sách
kinh tế vĩ mô.
"Không có thành công nào mà không phải trả giá"
Thưa ông, đã có một số ý kiến nhìn nhận lạc quan về sức tăng
trưởng của năm 2009, tuy nhiên, triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2010 sẽ
cùng gam màu sáng?
Kinh tế Việt Nam năm 2009 không rơi
vào suy thoái, chỉ bị suy giảm, đang phục hồi, ngăn chặn được nguy cơ
phá sản nhiều doanh nghiệp; không xảy ra tình trạng tăng tỷ lệ thất
nghiệp đô thị; xuất khẩu dù giảm khá mạnh nhưng vẫn duy trì được thị
phần ở các thị trường chính; kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88% đạt mục
tiêu đề ra... là những kết quả đáng mừng.
Tuy nhiên, không có thành công nào mà không
phải trả giá. Và cũng như kinh tế thế giới, sự phục hồi của kinh tế Việt
Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối
lẫn lộn.
Người
nghiêng về phía các gam màu sáng, nhất là nhìn về số lượng thì đánh giá
chúng ta đã phục hồi nhanh, thậm chí rất nhanh và dự báo sắp tới khá
sáng sủa. Người nghiêng về các gam màu tối, và nhất là đào sâu vào mặt
chất lượng tăng trưởng, vào các khó khăn đang tiềm ẩn dễ dẫn tới nhận
định sự phục hồi kinh tế nước ta dè dặt hơn. Tôi thuộc nhóm người này.
Như vậy, những
khó khăn ngắn hạn năm 2010 phải gánh chịu là gì, theo ông?
Một trong những
nội dung quan trọng của quan niệm “phát triển bền vững” là phát triển
của năm trước, thời kỳ trước phải tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát
triển của năm kế tiếp, thời kỳ kế tiếp.
Kết quả đạt được của năm 2009 cho thấy chưa
tạo điều kiện tốt hơn cho phát triển trong năm 2010, năm cuối cùng của
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006-2010 và cũng là năm cuối cùng
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010.
Những khó khăn mà
năm 2010 và một số năm tiếp theo phải vượt qua có nhiều, bao gồm cả các
vấn đề ngắn hạn và cả những vấn đề cơ bản, dài hạn. Ở đây xin nêu đôi
điều trước mắt. Có mấy vấn đề có thể gây bất ổn nhất đối với kinh tế vĩ
mô cho năm tới, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh, nổi bật
là vấn đề tỷ giá hối đoái và lạm phát.
Xuất khẩu năm 2009 giảm nhiều so với năm 2008;
năm 2010 dự kiến kim ngạch xuất khẩu tăng 6% so năm 2009, nhưng vẫn chưa
đạt mức năm 2008 (62,7 tỷ USD năm 2008 so với 60 tỷ USD dự kiến cho năm
2010), ảnh hưởng đến nguồn thu ngoại tệ và gây khó khăn cho cán cân
thanh toán quốc tế.
Lần đầu tiên trong nhiều năm, cán cân tổng thể năm 2009 và dự báo
cho cả năm 2010, tuy chưa vượt quá tầm kiểm soát, đã bị thâm hụt. Hậu
quả là khó khăn trong ổn định tỷ giá hối đoái.
Tuy chỉ số giá thị trường hiện đang
còn ở mức thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trong năm 2010 do
nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, tiền tệ, tín dụng năm 2009 tăng trưởng cao.
Tín dụng cả năm 2009 ước tăng gần 38% so với cuối năm 2008, trong khi
GDP tăng 5,32%. Như vậy, tỷ lệ giữa nhịp tăng tín dụng và nhịp tăng GDP
lên đến 7 là con số khá cao.
Thứ hai, tăng chi tiêu của nhà nước, bao gồm cả
tăng đầu tư kinh tế, xã hội; tăng lương cơ bản cho bộ máy công quyền,
người về hưu... lên 12,3%, áp dụng từ 1/5/2010, cho dù dự kiến bội chi
ngân sách Nhà nước có thấp hơn 2009 (6,9% GDP), nhưng vẫn còn khá cao
(6,2% GDP).
Thứ
ba, đặc biệt, xu hướng phục hồi kinh tế thế giới dẫn đến tăng giá nhiều
nguyên liệu, nhiên liệu quan trọng.
Với tư cách là nước nhập siêu thì đây là vấn đề
rất lớn. Ngoài ra, sự phục hồi vẫn đang phải dựa vào các yếu tố “ăn
nhanh” tức là những yếu tố khai thác theo chiều rộng, càng khoét sâu vào
những mặt yếu cơ bản của nền kinh tế.
Môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng, tuy
vài năm qua đã làm nhiều việc, nhưng chưa chặn đứng được, là cản trở
tăng trưởng bền vững không những trong dài hạn mà cả ngắn hạn.
Các vấn đề trên
đây là những khó khăn tiềm ẩn, nhưng thực tế diễn biến thế nào còn tùy
thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng nhất là điều hành vĩ mô.
Bên ngoài không khủng
hoảng, bên trong liệu có khó khăn?
Bất ổn kinh tế vĩ mô và suy giảm kinh tế trong
thời gian qua chủ yếu là do nguyên nhân từ bên ngoài, khi kinh tế thế
giới suy thoái, kinh tế Việt Nam cũng không thể tránh khỏi vòng xoáy,
ông có bình luận gì về ý kiến này?
Ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta là rõ ràng và
không thể phủ nhận. Nhưng, nhấn mạnh đến mức dường như chỉ do nguyên
nhân bên ngoài, không nhận biết đầy đủ, đúng mức nguyên nhân nội tại và
nhất là không thấy hết những mặt yếu cơ bản đang kìm hãm sự tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế Việt Nam là không phù hợp với thực tế, khó
tìm ra các giải pháp đẩy nhanh phục hồi kinh tế của chúng ta.
Một câu hỏi đã
được đặt ra mười năm trước, khi nổ ra khủng hoảng kinh tế, tài chính
châu Á, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa, đó là giả sử không có khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế nước ta có rơi
vào tình trạng khó khăn không?
Câu trả lời chắc chắn là có.
Một ví dụ dễ nhận
thấy để chứng minh cho nhận định đó, là khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu xảy ra từ quý 3/2008, trong khi từ năm 2007 đến
trước quý 3/2008, trong nền kinh tế của chúng ta đã xuất hiện không ít
khó khăn (lạm phát cao, nhập siêu lớn...).
Như vậy rõ ràng là nguyên nhân suy giảm kinh
tế của Việt Nam, như trên đã nói, không chỉ đến từ bên ngoài, mà quan
trọng nhất là do những nguyên nhân nội tại. Tác động từ bên ngoài chỉ
làm bộc lộ sớm và gây trầm trọng thêm những điểm yếu cơ bản của nền kinh
tế nước ta. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế
của kinh tế Việt Nam.
Những biểu hiện chính là: GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư
nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí
sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao, công
nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc
hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu
tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa
bình đẳng, lành mạnh...
Điều này cắt nghĩa tại sao kinh tế nước ta chưa
thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao ngay sau khi kinh tế phục hồi.
"Cần đưa ra sớm chương
trình tái cấu trúc kinh tế"
Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu tăng trưởng
kinh tế cho năm 2010 là 6,5%, con số này có khả thi không thưa ông?
Năm 2010 vẫn còn
không ít khó khăn như đã nêu. Con số 6,5% là khả thi nếu khắc phục tốt
những khó khăn trước mắt và nhanh chóng triển khai chương trình tái cấu
trúc kinh tế nhằm khắc phục những mặt yếu cơ bản trên đây của nền kinh
tế. Vấn đề này đã trở nên bức bách. Đây là vấn đề lâu dài nhưng phải làm
từ bây giờ.
Phải
xem đây là nhiệm vụ số một của cả nước nếu muốn phát triển nhanh và bền
vững trong những năm tiếp theo. Khắc phục những yếu kém này không phải
chỉ là trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô mà quan trọng nhất là trách
nhiệm của từng doanh nghiệp. Coi đây là tiềm năng to lớn, là dư địa để
tăng trưởng và phát triển của cả nước, của từng doanh nghiệp trong thời
gian tới.
Vốn
ODA cam kết cho năm 2010 lên đến 8 tỷ USD, bên cạnh niềm vui về con số
kỷ lục này, theo ông, có điểm nào đáng lo ngại về sức hấp thụ của nền
kinh tế hiện nay?
Đạt được con số 8 tỷ USD là một tín hiệu vui.
Những nước nghèo đi lên, muốn phát triển nhanh, bên cạnh tiết kiệm nội
địa để tăng vốn đầu tư và đầu tư có hiệu quả, phải vay mượn từ bên
ngoài, cả vay ODA và vay thương mại.
Nhưng vấn đề đặt ra là sử dụng tiền vay, cả vay
trong nước và vay nước ngoài, thế nào cho có hiệu quả, phát triển được
kinh tế, xã hội, trả được nợ. Điều đáng quan tâm là trên thế giới số
nước “vì vay nợ mà nghèo đi” nhiều hơn nhiều so với các nước “nhờ vay nợ
mà giàu lên”. Đương nhiên chúng ta mong muốn ghi tên mình vào nhóm nước
thứ hai, nhưng giữa muốn và làm đang còn độ cách.
Phải nhanh chóng khắc phục những khó
khăn, ách tắc trong hấp thụ vốn vay. Một trong những yếu kém nổi bật
hiện nay là tình trạng giải ngân quá chậm, cả vốn trái phiếu Chính phủ
và vốn ODA. Càng giải ngân chậm bao nhiêu thì hiệu quả và những “ưu đãi”
của vốn ODA càng giảm bấy nhiêu.
Ví dụ, ODA thường ân hạn 10 năm mà 9 năm mới
giải ngân thì ân hạn chỉ còn 1 năm. Không ít trường hợp do sử dụng vốn
ODA kém hiệu quả thì ưu đãi bằng lãi suất rất thấp bị triệt tiêu, thậm
chí còn kém hơn cả vay thương mại với lãi suất cao, thời hạn trả nợ
ngắn... Vốn trái phiếu Chính phủ cũng đang có tình hình tương tự.
Gói giải pháp kích thích
kinh tế của năm 2008 và 2009 đã có hiệu quả nhất định, theo ông, có nên
tiếp tục sử dụng những giải pháp tương tự cho năm 2010?
Cần đánh giá đúng
tác động thực sự của gói kích thích kinh tế áp dụng trong thời gian qua,
cả mặt tích cực và hệ lụy để có đối sách tiếp theo.
Tôi cho rằng, việc
không tiếp tục thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 4% là đúng và cần thiết
bởi lẽ tác dụng thực sự của chính sách này không quá cao như mong đợi,
nhưng lại để lại những kết quả không mong đợi: “hỗ trợ người khỏe, chưa
giúp được cho người yếu”; không kiểm soát được vòng quay vốn ngắn hạn;
nguy cơ chảy vốn vào kênh không khuyến khích đầu tư; áp lực tái lạm
phát; làm méo mó tín hiệu thị trường khi lãi suất cho vay VND và USD gần
như bằng nhau; tái lập lại chế độ “hai giá”...
Các chính sách cho đến nay vẫn chủ
yếu đẩy mạnh đầu tư, bao gồm cả các chính sách về bù lãi suất cho vay
trung hạn. Các giải pháp này có thể là cần thiết nhưng phải xem đây là
giải pháp tạm thời. Tăng vốn đầu tư mà không đi kèm với các với các giải
pháp nâng cao hiệu quả đầu tư thì càng khoét sâu vào những yếu kém của
nền kinh tế, để lại gánh năng cho thời kỳ tiếp theo.
Vì vậy, cần đưa ra
sớm chương trình tái cấu trúc kinh tế. Đến bây giờ mới nói đến cấu trúc
nền kinh tế là chậm, lỡ thời cơ. “Biến họa thành phúc” đã nói khá sớm,
mà nay mới khởi động là muộn. Cần tiến hành ngay cấu trúc lại nền kinh
tế cả cơ cấu lẫn cơ chế, cả vĩ mô lẫn vi mô.
Nội dung của tái cấu trúc phải bao gồm tái cấu
trúc cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm
ngành nghề, sắp xếp và cấu trúc lại doanh nghiệp Nhà nước. Hiện nay phải
thấy là cả tư duy tăng trưởng và mô hình tăng trưởng đã không còn phù
hợp. Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch
đại, sùng bái con số, và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được
nữa. Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.
Kích thích kinh tế
là tăng cường đầu tư. Vậy có tiếp tục đầu tư theo cách cũ để rồi lại
gây thêm khó khăn cho nền kinh tế trong tương lai không xa, nếu để các
sai lầm này vượt qua một giới hạn nào đó, sẽ xảy ra tình trạng có tăng
trưởng mà không có phát triển? Phân công, phân cấp trong quản lý là cần
thiết, nhưng thiếu sự chuẩn bị sẽ gây lãng phí; manh mún không kiểm soát
được...
Ngay
một loạt cơ chế tưởng chừng như dễ làm, làm nhanh được, mang lại hiệu
quả thiết thực, ví dụ, cải cách hành chính và bắt đầu từ cải cách thủ
tục hành chính, thế mà 15 năm rồi vẫn chưa có chuyển biến đáng kể, cắt
bớt thủ tục chậm hơn mọc ra thủ tục mới!
Vì vậy cắt tối thiểu 30% thủ tục hành chính
trong năm 2010 là rất cần thiết, phải làm cương quyết. Nhưng, còn cần
hơn nữa là đừng để “mọc” thêm một cách nhanh chóng các thủ tục mới.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tìm hiểu về doanh nghiệp
Nhập tên công ty hoặc mã CK để xem thông tin, các thống kê và chỉ tiêu tài chính.
Lĩnh vực kinh doanh
|
|
|
|
|