Sau khi điều
chỉnh mạnh tỷ giá vào cuối tháng 11 và trước diễn biến lạm phát không
thuận lợi trong tháng 11 và 12.2009, Chính phủ đã có những động thái
chính sách mạnh khác như tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, chấm dứt
chính sách hỗ trợ lãi suất 4%, yêu cầu bảy tập đoàn và tổng công ty nhà
nước lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng, và sắp tới, đóng cửa các sàn
vàng.
Những
chính sách này đều nhằm giữ niềm tin của người dân vào đồng nội tệ.
Nhưng có vẻ như niềm tin chưa dễ quay trở lại. Hầu hết các ngân hàng
thương mại đều gặp phải khó khăn trong việc huy động vốn ngay cả khi
hầu hết các mức lãi suất đã được đẩy lên sát trần 10,5%; tỷ giá trên
thị trường tự do vẫn được duy trì ở mức cao, khoảng 19.400đ/USD; và giá
vàng trong nước luôn cao hơn khá nhiều so với giá vàng thế giới.
Tạo
uy tín cho đồng tiền Việt Nam là một nhiệm vụ không thể không làm để
Việt Nam có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nhưng
đây không phải là công việc ngày một ngày hai. Việt Nam cần phải có một
chính sách nhất quán và dài hạn về vấn đề này càng sớm càng tốt.
Tác hại kinh tế của việc đồng bản tệ không được tín nhiệm
Trước hết, cần lưu ý
rằng một quốc gia có thể phát triển mà không cần đồng bản tệ. Các nước
thuộc khối Cộng đồng chung châu Âu đã từ bỏ đồng bản tệ của mình để
cùng sử dụng một đồng tiền chung. Một số nước nhỏ như Panama, El
Salvador, Ecuador, và gần đây là Zimbabwe đã từ bỏ đồng bản tệ. Họ sử
dụng USD làm phương tiện thanh toán.
Nhưng
một khi đồng bản tệ trở thành đồng tiền bắt buộc trong các giao dịch
chính thức của một quốc gia thì việc nó không được tín nhiệm sẽ gây cản
trở cho sự phát triển của quốc gia đó. Khi đồng bản tệ không được tín
nhiệm, nó sẽ không đáp ứng được đồng thời cả ba chức năng: phương tiện
thanh toán, dự trữ giá trị và đơn vị tính toán. Một mặt, theo quy định
của pháp luật, mọi người buộc phải sử dụng đồng bản tệ làm phương tiện
thanh toán; mặt khác, xuất phát từ lợi ích kinh tế, người dân sẽ có xu
hướng sử dụng các đồng tiền khác làm phương tiện dự trữ giá trị và đơn
vị tính toán cho một phần tài sản hoặc một số các dự án kinh tế của
mình.
Khi
người dân sử dụng những đồng tiền khác thay vì đồng bản tệ để tiết
kiệm, lãi suất huy động đồng bản tệ của các ngân hàng thương mại buộc
phải duy trì ở mức cao, dẫn đến lãi suất huy động vốn của các doanh
nghiệp cũng phải cao tương ứng. Chẳng hạn, trong khi hoạt động kinh
doanh trên toàn thế giới vẫn còn đang rất khó khăn, thì lãi suất cơ bản
của Việt Nam được thiết lập ở mức 8%, so sánh với mức lãi suất
“benchmark” của hai nước láng giềng Thái Lan là 1,25% và Malaysia là
2%. Với mức lãi suất cao như vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể
cạnh tranh được với các doanh nghiệp của các quốc gia mà lãi suất huy
động thấp.
Thiệt
hại cũng đến với cả người dân khi phải sử dụng phương tiện khác như
ngoại tệ mạnh hoặc vàng để tiết kiệm. Lãi suất của những phương tiện
này đều thấp. Hơn nữa, người dân lại còn phải trả các chi phí chuyển
đổi khi phải chuyển qua lại giữa VND với các phương tiện dự trữ giá trị
đó.
Việc đồng
bản tệ không được tín nhiệm còn khiến các đơn vị kinh doanh dễ gặp phải
sai lầm khi tính toán và xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Khi đồng bản
tệ không được sử dụng làm đơn vị tính toán, trong khi vẫn phải dùng làm
phương tiện thanh toán, các chủ thể kinh tế sẽ liên tục phải điều chỉnh
giá cả đầu vào và đầu ra mỗi khi tỷ giá biến động để đảm bảo mức lợi
nhuận kỳ vọng theo kế hoạch của mình. Thật khó có thể tránh được sai
lầm khi ta phải làm công việc này liên tục, giống như người kỹ sư sẽ
khó có thể tránh được sai lầm nếu như anh ta sử dụng cả hệ đơn vị mét
và đơn vị inch cùng một lúc trong thiết kế.
Ngoài
ra, đồng bản tệ không được tín nhiệm còn dẫn đến bất bình đẳng kinh tế.
Khi đồng bản tệ luôn trong tình trạng mất giá, một bộ phận nhỏ dân
chúng có khả năng tiếp cận nhanh chóng với các cơ hội đầu tư cũng như
phương tiện dự trữ giá trị khác sẽ không những tránh được các tổn thất
mà còn thu được lợi nhuận cao. Trong khi đó, bộ phận dân chúng lớn hơn,
như những người làm công ăn lương, công nhân và nông dân, sẽ có ít cơ
hội hoặc luôn chậm chân hơn so với các bộ phận dân chúng kia trong việc
chuyển đổi tài sản tích luỹ của mình. Kết quả là nhóm người này sẽ ngày
càng trở nên nghèo đi do tài sản của họ bị mất giá nhiều hơn so với tài
sản của nhóm người kia.
Nguyên nhân dẫn đến VND không được tín nhiệm
Một quá khứ xấu về lạm
phát và tỷ giá có thể khiến cho đồng bản tệ của một quốc gia không được
tín nhiệm ngay cả khi các chính sách hiện tại là tốt đẹp. VND rơi vào
trường hợp như vậy.
Lạm
phát luôn là một nỗi ám ảnh trong tâm trí của người Việt. Trong khi các
nước tiêu biểu hay “tấm gương” trong khu vực (Đài Loan, Hàn Quốc,
Malaysia, Thái Lan) liên tục duy trì được CPI dưới hoặc xấp xỉ 5% trong
một khoảng thời gian rất dài thì Việt Nam chỉ có duy nhất vài năm 1989
– 2003 duy trì được CPI dưới 5%. Trong những năm khác, CPI thường xuyên
ở mức 8 – 9% (xem hình 1). Quá khứ lạm phát trên hai con số, thậm chí
ba con số, vẫn còn khá gần.

VND
cũng mất giá nhiều so với các đồng tiền khác, thể hiện qua việc tỷ giá
danh nghĩa VND/USD thường xuyên tăng. Nếu loại trừ giai đoạn đặc biệt
1980 – 1985, khi cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất USD lên
rất cao để kiềm chế lạm phát dẫn đến USD tăng giá so với hầu hết các
đồng tiền khác trên thế giới, và loại trừ giai đoạn khủng hoảng tiền tệ
khu vực năm 1997 – 1998, thì bốn nước trong khu vực mà ta đang so sánh
đã duy trì được tỷ giá đồng bản tệ so với USD tương đối ổn định trong
suốt lịch sử phát triển của mình (xem hình 2). Đặc biệt, sau giai đoạn
khủng hoảng tài chính, các quốc gia đó đã có những thay đổi căn bản về
chính sách tiền tệ, giúp đồng bản tệ của họ không những ổn định trở lại
mà còn có xu hướng tăng giá trong những năm sau đó. Trong khi đó, tuy
VND không bị mất giá nhiều khi xảy ra khủng hoảng tài chính khu vực,
nhưng lại liên tục bị giảm giá kể từ năm 1996. Trong gian đoạn 1996 –
2008, VND bị mất giá khoảng 45% so với USD, trong khi các đồng tiền
khác chỉ mất giá trong khoảng từ 18 – 27% so với USD bất chấp một số
trong đó đã có lúc mất giá đến gần 100% trong giai đoạn khủng hoảng.

Làm thế nào để tạo uy tín cho VND?
Để
tạo được uy tín cho VND, Chính phủ không có cách nào khác ngoài việc
theo đuổi một số chính sách nhất quán sao cho lạm phát được kiềm chế ở
mức thấp (theo kinh nghiệm thế giới nên dưới 5%) và đồng nội tệ liên
tục tăng giá ở mức hợp lý so với các đồng tiền mạnh khác.
Đây
là một nhiệm vụ tưởng chừng khó nhưng hoàn toàn khả thi đối với một
nước đang phát triển. Kinh nghiệm của các nước đi trước như Hàn Quốc,
Đài Loan, Malaysia, Úc, New Zealand v.v… đã chứng tỏ điều này. Tuy
nhiên, để theo đuổi mục tiêu này, có hai quan niệm sai lầm cần phải
vượt qua.
Quan niệm sai lầm thứ
nhất là về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Một số
người vẫn quan niệm rằng để đạt tăng trưởng kinh tế cao thì chúng ta
buộc phải chấp nhận lạm phát cao. Đây là một quan niệm sai lầm trên cả
phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.

Trên
phương diện lý thuyết, sự phát triển không ngừng của công nghệ và năng
suất lao động bù đắp được sự khan hiếm tài nguyên cũng như sự gia tăng
của cầu, khiến cho giá cả của rất nhiều loại hàng hoá tiêu dùng giảm
hoặc tăng không đáng kể theo thời gian. Hay nói cách khác, một quốc gia
có thể duy trì được tốc độ phát triển cao mà không phải đối mặt với sự
tăng giá nếu nó liên tục cải thiện được năng suất lao động. Trong khi
đó, nếu để lạm phát xảy ra, những tổn thất kinh tế như đã trình bày ở
trên sẽ cản trở phát triển.
Trên
phương diện thực tiễn, bốn nước trong khu vực trong minh hoạ của chúng
ta đã duy trì được mức tăng trưởng rất cao trong thập kỷ 1980 và đầu
thập kỷ 1990 với mức CPI thấp, chỉ xấp xỉ hoặc dưới 5%. Cụ thể, Hàn
quốc đạt được tốc độ tăng trưởng GDP rất cao ở mức 8 – 11% trong giai
đoạn 1986 – 1990; Đài Loan ở mức trung bình 8% trong thập kỷ 1980 và 7%
trong nửa thập kỷ 1990; Thái Lan đạt khoảng 8 – 13% trong giai đoạn
1987 – 1995; và Malaysia tăng trưởng liên tục ở mức 9% trong giai đoạn
1988 – 1996.
Việt
Nam chưa từng khi nào đạt được mức tăng trưởng ổn định cao như những
nước “tấm gương” trong khu vực. Thời kỳ đạt tăng trưởng cao lâu nhất là
giai đoạn 1992 – 1997 và gần đây nhất là giai đoạn 2005 – 2007, với mức
tăng trên 8%. Trong giai đoạn tăng trưởng 1992 – 1997, đã có vài năm
Việt Nam duy trì được CPI ở mức thấp. Nguyên do chính của hiện tượng
này là trong nửa thập kỷ 1990, Việt Nam đã có những cải cách mạnh mẽ
trong khu vực doanh nghiệp, dẫn đến năng suất lao động được cải thiện
đáng kể. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2005 – 2007 gắn với CPI
tăng ở mức cao từ 7,5 – 8,4%, và năm 2008 là 23%, thể hiện tăng trưởng
trong giai đoạn này không phải do sự gia tăng năng suất lao động. Nó là
kết quả của chính sách tín dụng dễ dãi.
Quan
niệm sai lầm thứ hai là về ổn định tỷ giá. Tỷ giá ổn định, hay chính
xác hơn, dao động trong một biên độ vừa phải là điều cần thiết cho việc
xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, đối
với một nước đang phát triển, để duy trì tỷ giá ổn định thì Nhà nước
cần phải can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối bao gồm quản lý nguồn
cung, quản lý nguồn cầu và quản lý cả cách thức cung – cầu gặp nhau.
Thực
ra điều này không cần thiết nếu không muốn nói là luôn tạo ra bất ổn
tiềm tàng cho nền kinh tế. Trên nguyên tắc, một nước đang phát triển
thường có tốc độ phát triển cao hơn các nước đã phát triển, chẳng hạn
Mỹ. Nên nếu quốc gia đang phát triển này duy trì được CPI ở mức thấp
thì giá trị đồng tiền của quốc gia này sẽ luôn có xu hướng tăng giá so
với USD. Nếu để cho dân chúng và các doanh nghiệp được tự do tham gia
vào thị trường ngoại hối thì người dân nước đang phát triển sẽ có xu
hướng tin tưởng vào đồng tiền của họ hơn là vào ngoại tệ. Họ chỉ giữ
ngoại tệ khi thực sự cần, như nhập khẩu hàng hoá, đầu tư hoặc đi du
lịch ra nước ngoài. Chính phủ chỉ cần thực hiện một số các chính sách
kiểm soát dòng vốn ra vào quốc gia sao cho tránh được các cú sốc lớn về
cung và cầu là đủ để tạo ra một tỷ giá có xu hướng ổn định.
Thực
tế chứng minh điều này: các quốc gia trong khu vực sau khủng hoảng tài
chính 1997 – 1998 đều chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi (trừ Malaysia
chính thức thả nổi có kiểm soát từ năm 2006). Họ không những duy trì
được tỷ giá ổn định mà còn tạo ra được đồng bản tệ có giá trị tăng dần
so với USD. Và để ngăn chặn đồng tiền của họ tăng giá quá nhanh so với
USD, ngân hàng trung ương của các quốc gia này đã phải liên tục mua vào
ngoại tệ. Kết quả là họ đều đã tích luỹ được một lượng ngoại tệ khổng
lồ để đối phó với các bất ổn.
Duy
trì lạm phát thấp, tỷ giá thả nổi (có kiểm soát) và quyết tâm phát
triển kinh tế bằng cải thiện năng suất lao động là những điều kiện cần
để tạo uy tín thực sự cho VND.