Tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu tăng đáng kể qua các năm, nhưng vẫn chưa thấm tháp gì so với tổng số doanh nghiệp hiện có.
Vì sao chưa quan tâm?
Theo
số liệu thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), năm
2007, số nhãn hiệu đăng ký tăng 68% từ 6.335 (năm 2006) lên 10.660, năm
2008 tăng 49% lên 15.826 nhãn hiệu.
Tuy
nhiên, so với số lượng khoảng 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động hiện
nay, theo TS. Trần Lê Hồng, Cục Sở hữu trí tuệ thì con số nhãn hiệu
đăng ký trên chưa thấm vào đâu, đặc biệt, nếu tính trong tổng số nhãn
hiệu được đăng ký, do có nhiều doanh nghiệp đăng ký tới hai ba nhãn
hiệu thì số lượng doanh nghiệp đăng ký càng trở nên… nhỏ giọt.
Nhãn
hiệu là diện mạo của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp có thể tối đa
hóa sự khác biệt sản phẩm của mình. Nhãn hiệu còn thể hiện sự cam kết,
đảm bảo về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đối với khách
hàng của mình.
“Nhưng,
nhìn vào số nhãn hiệu đăng ký ít ỏi hiện nay, cho thấy rất nhiều doanh
nghiệp hoạt động cơ bản vẫn chưa mang tính chất dài hạn, bền vững, chưa
có chiến lược, ít nhiều còn thể hiện tính chụp giật”, ông Hồng nhận xét.
Ông
Hồng phân tích, nguyên nhân chính nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến
việc đăng ký thương hiệu là do vốn ít, tổ chức sản xuất khó khăn, hoặc
do doanh nghiệp chưa nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của nhãn hiệu.
Một
trong những hệ lụy lớn nhất, theo Cục Sở hữu trí tuệ, việc không có
được các nhãn hiệu được bảo hộ và được khẳng định trên thị trường để
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khiến các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị
phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài và chỉ có thể thực hiện gia công
với khả năng cao vì bị áp đặt về các điều kiện, khiến hiệu quả kinh
doanh bị giảm sút đáng kể. Và nó cũng là “con đường ngắn nhất” để doanh
nghiệp đánh mất thị trường.
Đăng ký ở ngoài nước
Không
chỉ đăng ký nhãn hiệu trong nước, mà doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là
những doanh nghiệp chuyên xuất khẩu hoặc xác định mở rộng thị phần ra
thế giới, cũng cần nhanh chóng tính đến đăng ký nhãn hiệu tại nước
ngoài, nếu không, doanh nghiệp sẽ khó có cơ hội bước chân vào thị
trường mới, hoặc buộc phải thay đổi nhãn hiệu đã đăng ký, gây dựng được.
Ông
Trần Lê Hồng dẫn lại câu chuyện của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam
(Vinataba), một thương hiệu khá nổi tiếng lâu năm của Việt Nam trước
đây, do không đăng ký nhãn hiệu ở nhiều nước trong khu vực, đã bị một
công ty của Indonesia “nhanh chân” đăng ký nhãn hiệu Vinataba cho sản
phẩm quần áo, giày dép ở 14 nước khác.
Vì
trước đó Vinataba chưa xuất khẩu vào thị trường này, nên khi Vinataba
muốn đưa sản phẩm của mình vào thị trường những nước đó đã không thực
hiện được. Hoặc, nếu muốn có mặt trên thị trường thì Vinataba phải thay
đổi nhãn hiệu - thương hiệu này thì mới xuất khẩu được. Còn nếu muốn
giữ được nhãn hiệu - thương hiệu Vinataba thì Vinataba phải chứng minh
nhãn hiệu của công ty Indonesia là của mình, và đòi lại được nhãn hiệu
đó. “Tuy nhiên, điều này rất khó khăn, phức tạp và vô cùng tốn kém, và
gần như là không thể”, ông Hồng nói.
Thực tế, cũng đã có nhiều công ty, doanh nghiệp khác của Việt Nam cũng rơi vào “tình cảnh” tương tự…
Theo
ông Hồng, những nhãn hiệu nổi tiếng luôn là mục tiêu của các đối thủ
cạnh tranh hoặc những doanh nghiệp, cá nhân làm ăn bất chính tìm cách
làm giả, sao chép, lợi dụng uy tín. Nên khi doanh nghiệp để mất nhãn
hiệu vào tay những “đối thủ” đó cũng có nghĩa là sẽ mất đi thị trường,
mất bạn hàng và mất thương hiệu.
Vì
thế, muốn giữ vững thị trường, ổn định xuất khẩu, doanh nghiệp không
còn cách nào khác là đánh giá đúng tình hình kinh doanh của mình để chủ
động trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đảm bảo cho hoạt động thương
hiệu và phát triển kinh doanh cả trong và ngoài nước.